Kiến Thức Chung

Báo cáo nghiên cứu khoa học:

Ngày đăng: 22/07/2014, 11:21

Tạp chí Khoa học 2008 (1): 84-89 Trường Đại học Cần T hơ 81 TỔNG QUAN DẪN LIỆU VỀ ĐỊNH LOẠI CÁ TRA Pangasianodon hypophthalmus PHẦN BỐ Ở VÙNG HẠ LƯU SÔNG MÊ KÔNG Nguyễn Văn Thường 1 ABS TRACT Pangasianodon hypopthalmus (Tra catfish) are characterized by a laterally compressed body, a short dorsal with one or two spines, a well developed adipose, a long anal fin, strong pectoral spines, and two pairs of barbels (maxillary and mandibulary). The position of the mouth is decribed as being terminal. There are 6 branched dorsal fin rays and the pelvic fins have 8-9 soft rays. The gill rakers are described as being normally developed, with small gill rakers being interspersed with larger ones.Pangasianondon hypophthalmus have the swimbladder with a single chamber extending posteriorly above anal fin. The natural range of Pangasianodon hypophthalmus is limited to the lower Mekong Basin, includes Cambodia, Lao PDR, Thailand and Viet Nam, and the Chao Praya River in Thailand. Over their native range, Tra catfish are divided into two distinct populations: stocks in the Mekong River in Cambodia and Viet Nam belong to one population (southern stock); and stocks above Khone Falls in Lao PDR and Thailand form a separate population (northern stock). The southern stock is subject to more intensive fishing than the northern stock, and is larger in size. Từ khóa: Classification, Pangasiidae, Mekong Delta Title: Classification of the Pangasianodon hypophthalmus in the Mekong River TÓM TẮT Cá Tra(Pangasianodon hypophthalmus) có thân thể dẹp theo chiều hông, vi lưng ngắn với 1-2 gai cứng, vi mỡ khá phát triển, vi hậu môn dài, gai vi ngực cứng, có hai đôi râu hàm (một đôi râu mép và một đôi râu cằm). Có cấu trúc miệng trước. Vi lưng có 6 tia phân nhánh và vi ngực có 8-9 tia mềm. Lược mang phát triển bình thường, phân bố lớn nhỏ rải rác. Loài Pangasianodon hypophthalmus có bong bóng khí một thùy, phần sau kéo dài đến gần cuối vi hậu môn. Cá Tra phân bố tự nhiên ở vù ng h ạ lưu sông Mekong bao gồm các nước: Cambodia, Lào, Thái Lan, Việt Nam và chúng cũng được phát hiện ở sông Chao Praya- Thái lan. Dựa vào dấu hiệu phân bố tự nhiên của cá Tra, người ta có thể chia ra hai quần thể tách biệt: một đàn cá sống ở đoạn Mekong t ừ Cambodia về Vi ệt Nam (quần thể phía Nam) ; và một đàn cá phân bố ở phía trên thác Khôn ở Lào và Thái lan tạo ra một quần thể riêng bi ệt (quần thể phía Bắc) Đàn cá phía Nam có số lượng lớn, trọng yếu cho nghề khai thác hơn đàn cá phía Bắc. Từ khóa: Phân loại, Pangasiidae, Đồng bằng sông Cửu Long 1 GIỚI THIỆU Dẫn liệu update cho thấy bộ Siluriformes gồm có 36 họ, 477 giống, 3088 loài cá phân bố rộng khắp trên toàn toàn cầu. Trong 36 họ cá đã nêu có một số họ cá có giá trị kinh tế được nuôi và khai thác thông dụng như các họ: Ariidae (cá Úc), Bagridae (cá Chốt), Clariidae (cá Trê), Ictaluriida e (cá Nheo), Pangasiidae (cá Trơn), Plotosidae (cá N gát), Silurudae (cá Leo) và Sisoridae (cá Chiên)…(Carl, J.Ferraris, JR, 2007). Cá Tra là loài cá kinh tế thông dụng ở khu vực châu Á, là một trong 30 loài cá thuộc họ Pangasiidae (theo http://www.fishbase.org). Họ cá Pangasiidae được phát hiện trước nhất trong thủy vực nước ngọt ở các quốc gia phụ cận khu vực hạ lưu của Ấn Độ Dương; sự đa dạng thành phần loài của họ cá này tập trung đa phần ở khu vực Đông Nam châu Á 1 Bộ môn Thủy sinh học ứng dụng, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ. Tạp chí Khoa học 2008 (1): 84-89 Trường Đại học Cần T hơ 8 2 (Roberts and Vithayanon 1991).Cá Tra có nguồn gốc từ Cambodia, Lào, Thái Lan và Việt Nam (www.fishbase.org). Ngoài ra loài cá Tra được mang vào nuôi rộng rãi khắp các thủy vực nước ngọt Đông Nam Á. Tri thức về sinh học và sinh thái học của loài này trong tự nhiên còn hạn chế (Hung, et al., 2003). Cá Tra có tính ăn tạp và thức ăn đa phần là thực vật, trái cây và một số loài động vật thân mềm (Vithayanon, 1993). 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Mẫu cá thu từ chợ Cần Thơ và chợ Cái Răng (Tp Cần Thơ), được gìn giữ tươi sống, mang về phòng thử nghiệm để xem xét và chụp hình. Số lượng mẫu xem xét là 20 mẫu có kích thước biến động từ 30-45cm. Xem xét ngoại hình dựa vào các kpi: hình dạng, màu sắc, số đôi râu hàm (maxillary barbel; mandibular barbel), cấu trúc vi lưng (Dorsal fin) vi ngực (Pelvic fin), vi hậu môn (Anal fin), dạng miệng. Giải phẫu xem xét cấu trúc bên trong: dạng răng, lược mang (Gill raker), bong bóng khí (swimbladder)… Định loại cá dựa vào tài liệu phân loại của Tyson R.R. & C. Vidthayanon,1991; Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993. Ngoài ra còn dựa vào tài liệu update của Pouyaud L., R.Gustiano and G.G.Teugel, 2004 và Ferraris C.J., 2007 trong việc định danh update tên khoa học của loài cá Tra. 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Hệ thống phân loại Theo dẫn liệu từ http://www.itis.gov 16/02/2008 hệ thống phân loại của loài cá Tra được xá c định như sau : Giới: Animalia Linnaeus, 1758 Nghề: Chordata Bateson, 1885 Nghề phụ: Vertebrata Cuvier, 1812 Tổng lớp: Osteichthyes Huxley, 1880 – Bony fishes Lớp: Actinopterygii Huxley, 1880 – Ray-finned fishes Lớp phụ: Neopterygii Infraclass: Teleostei Tổng bộ: Ostaryphysi Bộ: Siluriformes Họ: Pangasiidae Bleeker, 1858 Giống (chi): Pangasius Valenciennes in Cuvier and Valenciennes, 1840 Loài: Pangasius hypophthalmus (Sauvage, 1878) Các đồng danh của loài cá Tra : (synonyms) – Helicophagus hypophthalmus Sauvage, 1878 – Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878) Tạp chí Khoa học 2008 (1): 84-89 Trường Đại học Cần T hơ 83 – Pangasius hypophthalmus (Sauvage, 1878) – Pangasius pangasius (non Hamilton,1822) – Pangasius pleurotaenia (non Sauvage, 1878) – Pangasius sutchi Fowler, 1937 Tên loài Pangasianodon hypophthalmus được Rainboth, W.J. sử dụng lần đầu vào năm 1996 để chỉ định cho loài cá Tra và sau đó được nhiều tác giả khác sử dụng thông dụng đến nay. Tuy nhiên tên khoa học Pangasius sutchi thì không còn sử dụng nữa.Tên đặt cho loài này khác nhau theo các nước trong vùng nó phân bố. Ở Campuchia là Trey pra (tên Khmer), Lào là Pa souay kheo, pa suay, Thái là Pla saa wha, pla suey và Việt Nam là Cá Tra. 3.2 Dấu hiệu thành phần loài Chưa có sự thống nhất giữa các nhà khoa học về dấu hiệu thành phần loài của họ cá Tra. Theo một số thống kê update từ các nguồn (website) cho thấy họ Pangasiidae có: – Theo http://www.Fishbase.org (16/02/2008) Họ cá Pangasiidae hiện có 30 loài với 3 giống như sau : Giống Helicophagus: 03 loài Giống Pangasianodon: 02 loài Giống Pangasiu : 25 loài – Theo http://www.itis.gov (16/02/2008) (Integrated Taxonomy Information System) Họ cá Pangasiidae có 3 giống gồm 31 loài cá. Giống Helicophagus: 03 loài Giống Pangasius: 27 loài Giống Sinopangasius: 01 loài – Theo Ferraris, 2007 : Họ cá Pangasiidae có tổng số loài là 30, gồm 5 giống. được chia ra như sau : Giống Cetopangasius:01 loài Giống Helicophagus : 03 loài Giống Pangasianodon: 02 loài Giống Pangasius: 22 loài Giống Pseudo lais: 02 loài Số liệu update của Ferraris (2007) cũng đã xác nhận rõ vị trí phân loại và vùng phân bố của 2 họ cá Pangasiidae và Schilbidae (trước đó được gọi là Schilbeidae) mà trước đó một số tác giả đã xếp chúng cùng một họ (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993). Pouyaud el al., (2004) cho rằng trong số các giống thuộc họ Pangasiidae thì giống Pangasius có dấu hiệu tiến hóa hơn so với các giống khác. Về quan hệ giữa họ Pangasiidae và Schilbeidae cho thấy 2 họ này có sự phân bố khác nhau: họ cá Pangasiidae phân bố đa phần ở Đông Nam Á, trong khi họ cá Sch ilbidae tìm thấy chủ yếu ở tiểu lục địa Ấn độ (bao gồm cả Myanmar) và châu Phi. Điều này đã được xác nhận có sự tách ly giữa 2 họ Schilbidae và Pangasiidae ở đầu kỷ M iocene. Dấu hiệu phân biệt giữa 2 họ cá Pangasiidae và Schilbidae: Tạp chí Khoa học 2008 (1): 84-89 Trường Đại học Cần T hơ 8 4 Bảng 1: Dấu hiệu hình thái phân biệt giữa 2 họ cá Pangasiidae và Schilbidae Dấu hiệu hình thái Họ Pangasiidae Họ Schilbidae Vi lưng có gai cứng. Có Có Vi mỡ (Adipose fin) Có (nhỏ) Có (nhỏ) Vi đuôi (Caudal fin) Dạng chạc (phân thùy), tách biệt với vi hậu môn Dạng chạc (phân thùy), tách biệt với vi hậu môn Vi hậu môn (Anal fin) Có 26 – 46 tia vi Có 36- 49 tia vi Râu mũi (nasal barbel) Không Có, nhỏ Số đôi râu hàm dưới (Mandibular barbel) Có 1 đôi Có 2 đôi râu Số lượng loài Nhiều Ít Việc xác nhận tên khoa học của loài cá Tra đến nay đã có nhiều tài liệu thông báo, nhưng nhìn chung có sự khác nhau rõ, chưa có sự thống nhất. Một cách tổng quát có thể thống kê tên loài được nhiều tác giả sử dụng trong những năm gần đây như sau: Bảng 2 : Các pháp danh khoa học được sử dụng cho loài cá Tra qua các năm gần đây Tên loài được sử dụng Nguồn tài liệu; tác giả Năm Pangasius hypophthalmus Roberts, T.R. & and C.Vithayanon. Roberts, T.R. Anon. Swedish Museum of Natural History. Wu, H.L., K.T.Shao and C.F.Lai, Editors Pouyaud, L. and G.G.Teugels. Anon. Carl, H.; Chinese Academy of Fishery Science Riede, K. Machacek, H ; Aloun, P. 1991 1993 1997 1999 1999 2000 2002 2003 2004 2006 Pangasianodon hypophthalmus Rainboth, W.J. Vithayanon, C., J.Karnasuta and J.Nabhitabhata Bair, I.G., V.Inthaphaisy… Lim, P., S.Lek, S.T.Touch IGFA Kottelat, M . Motomura, H., S.Tsukawaki and T. Kamiya Rudhy Gustiano and Laurent Pouyaud Ferraris, C.J., Jr. 1996 1997 1999 1999 2001 2001 2002 2005 2007 Nhận xét: – Tên loài Pangasius hypophthalmus được Roberts và Vidthayanon thông báo trước nhất trong các tài liệu phân loại nhóm cá trơn thuộc họ Pangasiidae năm 1991. – Tên loài Pangasianodon hypophthalmus được Rainboth sử dụng từ năm 1996 và đến nay đã được nhiều tác giả khác cùng sử dụng và thông báo trong nhiều tài liệu. – Theo các website chuyên tìm hiểu về phân loại học (http://www.itis.gov) và thế gi ới các loài cá (http://www.fishbase.org) cho thấy có sự không thống nhất khi chỉ định loài cá Tra bằng tên khoa học khác nhau : Pangasius hypophthalmus (http://www.itis.gov) ; Pangasianodon hypophthalmus (http://www.fishbase.org ; Ferraris, 2007). Tạp chí Khoa học 2008 (1): 84-89 Trường Đại học Cần T hơ 85 3.3 Nền tảng tách giống Theo Roberts & Vidthayanon (1991) dựa vào cấu trúc dạng miệng và bong bóng khí của cá để làm nền tảng nhận dạng các loài trong giống Pangasius và Pangasianodon (Bảng 3). Bảng 3: Cấu trúc dạng miệng của các loài cá thuộc giống Pangasianodon và Pangasius Dạng miệng Loài đại diện Terminal mouth (miệng tận cùng, miệng trước) Pangasianodon gigas và Pangasius hypophthalmus Subterminal mouth (miệng gần cuối) Pangasius bocourti, Pangasius conchophilus, Pangasius djambal, Pangasius krempfi, Pangasius macronema. Inferior mouth (miệng dưới) Pangasius nasutus Ngoài ra Zalinge, et al. (2002) cho rằng các kpi hình thái để tách giống Pangasianodon ra khỏi giống Pangasius là miệng có dạng trước (terminal mouth), có 8-9 tia vi ngực; loài Pangasianodon gigas có 7 tia vi lưng và không có lược mang (gill rakers), trong khi loài Pangasianodon hypophthalmus có 6 tia vi lưng và lược mang rất phát triển. Số thùy của bong bóng khí Loài đại diện Bong bóng khí 1 thùy Pangasianodon gigas (Cá Tra dầu) Bong bóng khí 1 thùy Pangasius hypophthalmus (Cá Tra nuôi) Hình 1 : Cấu trúc bong bóng khí của các loài cá thuộc giống Pangasianodon và Pangasius (Roberts & Vidthayanon, 1991) Theo Roberts và Vidthayanon (1991) thì các giống Pangasianodon Chevey, 1930, Pteropangasius Fowler, 1937 và Sinopangasius Chang and Wu, 1965 là các đồng danh (synonyms) của giống Pangasius. Tác giả đã xếp Pangasianodon là giống phụ (Subgenus) của giống (Genus) Pangasius. Dấu hiệu nhận dạng của giống phụ Pangasianodon là: không có râu hàm dưới (Mandibular barbel), không có răng ở cá trưởng thành và bong bóng khí chỉ có một thùy (Hình 1, 2 và 4). Dấu hiệu nhận dạng giống Pangasius là: có râu hàm dưới (Mandibular barbel), răng vòm miệng chia t hành 4 đám rõ rệt, bong bóng khí một thùy với phần sau kéo dài đến gần cuối vi hậu môn. Tạp chí Khoa học 2008 (1): 84-89 Trường Đại học Cần T hơ 8 6 3.4 Dấu hiệu hình thái Trương Thủ Khoa & Trần Thị Thu Hương,1993 loài cá Tra được mô tả như sau: – Đầu rộng, dẹp bằng. Mõm ngắn, nhìn từ trên xuống chót mõm tròn. – Miệng trước (terminal mouth), rộng ngang, không co duỗi được có dạng hình vòng cung và nằm trên mặt phẳng ngang. – Răng nhỏ mịn, răng vòm miệng chia thành 4 đám nhỏ, mỏng, nằm trên đường vòng cung, thỉnh thoảng bị che lấp bởi nếp da vòm miệng (Hình 2). Hình 2: Cấu trúc răng vòm miệng của cá Tra nuôi (Roberts & Vidthayanon, 1991) – Lỗ mũi sau gần lỗ mũi trước hơn mắt và nằm trên đường thẳng kẻ từ lỗ mũi trước đến cạnh trên của mắt. – Có hai đôi râu, râu mép (Maxillary barbel) kéo dài chưa chạm đến gốc vi ngực, râu cằm (Mandibular barbel) ngắn hơn. – Thân thon dài, phần sau dẹp bên. Đường bên hoàn toàn và phân nhánh, xuất phát từ mép trên của lỗ mang đến điểm giữa gốc vi đuôi. Mặt sau của vi lưng, vi ngực có răng cưa hướng xuống gốc vi. Vi bụng kéo dài chưa chạm đến khởi điểm của gốc vi hậu môn. Hình 3: Cá Tra nuôi (Pangasianodon hypophthalmus) Hình 4 : Hình dạng 2 đôi râu ở cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus); 01 đôi râu mép dài (Maxillary barbel); 01 đôi râu hàm dướ i ngắn (Mandibular barbel) Tạp chí Khoa học 2008 (1): 84-89 Trường Đại học Cần T hơ 8 7 Hình 5: Vị trí và hình dạng bong bóng khí của loài cá Tra Hình 6: Cấu trúc bong bóng khí của cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus) 3.5 Dấu hiệu phân bố và sinh thái Vùng phân bố tự nhiên của loài cá Tra hạn chế trong hạ lưu sông Mekong, bao gồm Cambodia, Lào, Thái Lan và Việt Nam, kể cả sông Chao Praya ở Thái Lan (Roberts and Vidthayanon, 1991; Poulsen, et al., 2004; Seafood Watch, Seafood Report, 2005). Theo Ủy hội sông Mekong (2005) trong tự nhiên có ít nhất 2 đàn cá Tra tách biệt (quần thể) : – Một quần thể ở thượng lưu sông Mekong phân bố kéo dài từ sông Lô-ây (Loei River, Thailand) ngược lên biên giới giữa Trung Quốc và Myanmar. – Một quần thể to hơn ở hạ lưu sông và là nguồn phân phối trọng yếu cho nghề đánh cá ở đây. Nó kéo dài từ Đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam, vào hệ thống sông Tonle Sap – Biển Hồ, và đi xa đến tận thác Khône. Về dấu hiệu sinh sản cho thấy cá Tra là loài cá di cư sinh sản, ngược dòng Mekong từ một vùng chưa rõ vào tháng 5- 7 và quay lại dòng chính khi nước sông đổ về dâng ngập vào tháng 9- 12. Ở phía Nam thác Khône, sự di cư ngược dòng của cá Tra xảy ra từ tháng 10- tháng 02 năm sau, cao điểm vào tháng 11-12. Sự di cư này xảy ra khi nước rút và xuất hiện rải rác theo sau đó là các hoạt động di cư theo chiều ngang của cá từ các vùng ngập nước trở về dòng Mekong vào cuối thới kỳ mùa lũ. Hoạt động di cư xuôi dòng của cá xảy ra từ tháng 5- 8 từ Stung Treng đến Kandal ở Cambodia và sau đó đến hạ lưu sông Mekong ở Việt Nam. Trứng cá xuất hiện vào tháng 3- tháng 8 từ Stung Treng đến Kandal cho thấy rằng sự di cư xuôi dòng của cá bao gồm Tạp chí Khoa học 2008 (1): 84-89 Trường Đại học Cần T hơ 88 cả hai hoạt động: di cư sinh sản và di cư dinh dưỡng và cuối cùng cá di chuyển đến các cánh đồng ngập nước ở Cambodia và Việt Nam trong mùa lũ. Ở Việt Nam, cá Tra thuộc đàn cá hạ lưu, phân bố rộng khắp trên sông Tiền và sông Hậu. Vào mùa mưa (tháng 5- 6) cá Tra bột trôi theo dòng nước từ bãi đẻ ở đoạn giữa Kra-chê và thác Khône vào thời gian khởi đầu mùa lũ. Khi chúng đến biên giới giữa Cambodia và Việt Nam, cá sẽ dạt vào các vùng ngập nước ở đây. Sông Tonle Sap đã chảy theo chiều nguợc lại giúp cho cá bột có thể đi sâu vào vùng ngập thuộc hệ thống này. 4 KẾT LUẬN – Cá Tra có dạng miệng trước, có hai đôi râu: râu hàm trên (râu mép) tương đối dài, râu hàm dưới (râu cằm) tương đối ngắn, không có râu mũi. – Lược mang khá phát triển, bong bóng khí có một thùy và phần sau kéo dài đến gần cuối vi hậu môn. – Răng nhỏ, mịn, răng vòm miệng chia thành 4 đám nhỏ, mỏng, nằm trên đường vòng cung. – Tên loài Pangasianodon hypophthalmus được Rainboth, W.J., 1996 sử dụng lần đầu và đến nay đã được nhiều tác giả sử dụng rộng rãi trong các giải trình khoa học và tài liệu thông báo trên toàn toàn cầu . CẢM TẠ Tác giả xin chân th ành cảm ơn các đồng nghiệp thuộc bộ môn Thủy sinh học Ứng dụng – Khoa Thủy sản đã tạo điều kiện và giúp đỡ tích cực trong quá trình thực hiện tìm hiểu này. TÀI LIỆU THAM KHẢO Ferraris, C.J., 2007. Checklist of Catfishes, recent and fossil (Osteichthyes, Siluriformes), and catalogue of siluriform primary types. Zootaxa 1418 © 2007 Magnolis Press. 628p. http://www.fishbase.org (ngày 16/02/2008) http://www.itis.gov (ngày 16/02/2008) http://vi.wikipedia.org (ngày 16/02/2008) Hung L.T., J. Lazard, C. Mariojoul, Y. Moreau, 2003. Comparison of starch utilization in fingerlings of two Asian catfishes from the Mekong River (Pangasius bocourti) Sauvage, 1980, Pangasius hypophthalmus Sauvage, 1878. Aquaculture Nutrition 9, pp: 215-222. Poulsen, A.F., K.G. Hortle, Valbo-Jorgensen, J.S. Chan, C.K. Chhuon, S. Viravong, K. Bouakhamvongsa, U. Suntornratana, N. Yoorong, Nguyen T.T. and B.Q.Tran, 2004. Distribution and ecology of some important riverine fish species of the Mekong River Basin. MRC Technical Paper No. 10, Mekong River Commission, Vientiane. Pouyaud L., R. Gustiano and G. Teugels, 2004. Contribution to the phylogeny of the Pangasiidae based on mitochondrial 12S RDNA. Indonesian Journal of Agricultural Science, 2004 (Vol.5) (No.2) pp: 45-62. Rainboth, W.J., 1996. Fishes of the Cambodian Mekong. FAO species identification sheets for fishery purposes. Food and Agriculture Organization, Rome. 265p. Roberts, T.R. and C. Vidthayanon, 1991. Systematic revision of the asian catfish family Pangasiidae with biological observations and descriptions of three new species. Proceedings o f the Academy o f Natural Sciences of Philadelphia 143: 97-144. Seafood Watch. Seafood Report-Final Report, August 26, 2005. Farmed river catfish. Tra (Pangasius hypophthalmus); Basa (Pangasius bocourti). pp: 3-7 Trương Thủ Khoa and Trần Thị Thu Hương, 1993. Định loại cá nước ngọt vùng đồng bằng sông Cửu Long. 361p. Tạp chí Khoa học 2008 (1): 84-89 Trường Đại học Cần T hơ 8 9 Van Zalinge, N., S. Lieng, P.B. Ngor, K. Heng and J.Valbo-Jorgensen, 2002. Status of the Mekong Pangasianodon hypophthalmus resources, with special reference to the stock shared between Cambodia and Viet Nam. MRC Technical Paper No.1. Mekong River Commission, Phnom Penh. 29p. Vidthayanon, C., 1993. Taxonomic revision of the Catfish family Pangasiidae. Thesis sumitted to Tokyo University of Fisheries, Laboratory aof Aquactic Biology, Department of Aquatic Biosciences, Tokyo University of Fisheries, March 1993. Ủy hội sông Mekong, 2005. Phân bố và sinh thái một số loài cá sông trọng yếu ở hạ lưu sông Mekong. Giải trình chuyên mục, No. 10, June 2005. Nxb. Nông nghiệp. 120p. . chí Khoa học 2008 (1): 84-89 Trường Đại học Cần T hơ 81 TỔNG QUAN DẪN LIỆU VỀ ĐỊNH LOẠI CÁ TRA Pangasianodon hypophthalmus PHẦN BỐ Ở VÙNG HẠ LƯU SÔNG MÊ KÔNG Nguyễn Văn Thường 1 ABS TRACT. dưỡng và cuối cùng cá di chuyển đến các cánh đồng ngập nước ở Cambodia và Việt Nam trong mùa lũ. Ở Việt Nam, cá Tra thuộc đàn cá hạ lưu, phân bố rộng khắp trên sông Tiền và sông Hậu. Vào mùa. Tokyo University of Fisheries, March 1993. Ủy hội sông Mekong, 2005. Phân bố và sinh thái một số loài cá sông trọng yếu ở hạ lưu sông Mekong. Giải trình chuyên mục, No. 10, June 2005. Nxb. Nông nghiệp.

Xem Thêm :   Neriak Third Gate :: Zone :: Quest Search :: EverQuest :: ZAM

Xem Thêm :  4 cách thêu tranh chữ thập nhanh và đẹp nhất, hướng dẫn cách thêu tranh chữ thập

– Xem thêm –

Xem thêm: Giải trình tìm hiểu khoa học: “TỔNG QUAN DẪN LIỆU VỀ ĐỊNH LOẠI CÁ TRA Pangasianodon hypophthalmus PHẦN BỐ Ở VÙNG HẠ LƯU SÔNG MÊ KÔNG” potx, Giải trình tìm hiểu khoa học: “TỔNG QUAN DẪN LIỆU VỀ ĐỊNH LOẠI CÁ TRA Pangasianodon hypophthalmus PHẦN BỐ Ở VÙNG HẠ LƯU SÔNG MÊ KÔNG” potx, Giải trình tìm hiểu khoa học: “TỔNG QUAN DẪN LIỆU VỀ ĐỊNH LOẠI CÁ TRA Pangasianodon hypophthalmus PHẦN BỐ Ở VÙNG HẠ LƯU SÔNG MÊ KÔNG” potx

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Cây Xanh

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Kiến Thức Chung

Related Articles

Back to top button