Kiến Thức Chung

Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, thực trạng và giải pháp pot

Ngày đăng: 06/03/2014, 10:21

triển du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, thực trạng giải pháp MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay du lịch đã trở thành một nhu cầu cần thiết trong đời sống xã hội. Về mặt kinh tế, du lịch đã trở thành một ngành quan trọng của nhiều nước công nghiệp phát triển. Với một số quốc gia, du lịch được coi là một cứu cánh để vực dậy nền kinh tế. Tuy nhiên, do việc khai thác tài nguyên không hợp lý thiếu khoa học để phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội mà môi trường tài nguyên du lịch ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam đang phải chịu những tác động tiêu cực, nó đã đang trong quá trình cạn kiệt, suy thoái những tác động tiêu cực của thiên tai ngày càng tăng diễn ra ở nhiều nơi. Du lịch là một ngành có mối liên hệ chặt chẽ với môi trường. Trong phát triển du lịch môi trường là yếu tố quan trọng bậc nhất ảnh hưởng đến tốc độ phát triển hoạt động, là nguồn động lực để thu hút khách du lịch. Cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội, du lịch cũng có những sự thay đổi để phục vụ nhu cầu ngày càng đa dạng của con người. Một trong những loại hình du lịch mới ra đời chiếm được sự quan tâm ngày càng cao của xã hội là du lịch sinh thái. Du lịch sinh thái chú trọng vào tài nguyên nguồn lực địa phương, chú trọng đến hoạt động bảo tồn đảm bảo phát triển cộng đồng dân cư địa phương điều này làm cho du lịch sinh thái trở nên hấp dẫn với các nước đang phát triển. Du lịch sinh thái được xác định là loại hình du lịch đặc thù, là tiềm năng thế mạnh của du lịch Việt Nam. Mặc vậy đến nay việc khai thác những tiềm năng tài nguyên du lịch sinh thái còn ở mức sơ khai, tự phát. Trước đây thậm chí ngay cả thời điểm hiện tại, thuật ngữ du lịch sinh thái vẫn đang được hiểu một cách “lờ mờ”, không rõ ràng. Người ta lạm dụng những từ mang ý nghĩa vì môi trường như: “xanh – green”; tiền tố “sinh thái – eco” để ghép với một danh từ khác như: Chương trình du lịch sinh thái – eco tour, lữ hành sinh thái – eco travel, nghỉ hè sinh thái – ecovation du lịch sinh thái – eco – tuorism mà không hiểu (hoặc cố tình không hiểu) ý nghĩa đích thực của nó. Ý tưởng của các nhà đầu tư, chủ kinh doanh trong lĩnh vực du lịch này là tích cực. Nhưng kiến thức về môi trường sinh thái cách thể hiện sự phục vụ của họ đôi khi lại trái ngược với các nguyên tắc, đặc điểm trong phát triển du lịch sinh thái. Ninh Bình là một tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng cách thủ đô Hà Nội không xa, có một tiềm năng to lớn để phát triển du lịch. Có thể nói, ít có địa phương nào trên cả nước với diện tích đất không rộng, người không đông nhưng lại tập trung nhiều nguồn tài nguyên du lịch có giá trị như Ninh Bình: Khu di tích danh thắng Tam Cốc- Bích Động, Kinh đô cũ của hai triều Đinh – Lê, Nhà thờ đá Phát Diệm, rừng quốc gia Cúc Phương, khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long đã đạt đến mức độc đáo quý hiếm. Trong những năm qua, kinh tế xã hội của tỉnh nói chung du lịch nói riêng đã có những tiến bộ đáng kể nhưng trên thực tế nó vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh hiện có của tỉnh. Một số chỉ tiêu về kinh tế: Như tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người còn ở mức thấp so với bình quân chung của cả nước, cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm chạp, đặc biệt là các chỉ tiêu về du lịch như: số lượng du khách, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ dịch vụ du lịch còn nhỏ bé. Hầu hết các hoạt động du lịch của tỉnh chỉ dừng lại ở việc khai thác các nguồn tài nguyên tự nhiên sẵn có mà chưa có sự đầu tư để phát triển bền vững. Hoạt động du lịch sinh thái bước đầu đã đi vào hoạt động nhưng vẫn mang tính tự phát là chủ yếu, việc tổ chức các hoạt động du lịch sinh thái đã bắt đầu bộc lộ những yếu kém, gây tác động xấu đến cảnh quan, môi trường. Nguyên nhân là do các cấp, các ngành, đơn vị, cá nhân làm du lịch chưa thật sự hiểu rõ về du lịch sinh thái những lợi ích mà nó mang lại, không chú trọng đầu tư (cả về cơ sở hạ tầng, nhân lực kiến thức khoa học), thiếu quy hoạch, chiến lược phát triển, hoặc quy hoạch chưa đồng bộ, chưa tiến hành khảo sát kỹ lưỡng toàn diện về tài nguyên du lịch tự nhiên cũng như các điều kiện khác để phát triển DLST. Với những tiềm năng sẵn có của tỉnh Ninh Bình việc chú trọng đầu tư để phát triển kinh tế du lịch đặc biệt là phát triển DLST không chỉ mang lại những hiệu quả thiết thực cho nền kinh tế của tỉnh mà còn phù hợp với xu thế phát triển của xã hội. Việc nghiên cứu, tìm ra những giải pháp để phát triển DLST là cần thiết, không chỉ với lý luận mà còn có giá trị thực tiễn cao. Do vậy tác giả chọn đề tài “Phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, thực trạng giải pháp” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ chuyên ngành Kinh tế phát triển của mình. 2. Tình hình nghiên cứu của đề tài Trong thời gian qua đã có nhiều công trình khoa học cả trong nước quốc tế nghiên cứu về du lịch phát triển du lịch trong đó có du lịch Ninh Bình: – “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình 1995-2010”, Viện nghiên cứu chiến lược phát triển du lịch Việt Nam. – Trần Đức Thanh, “Cơ sở khoa học trong việc thành lập các bản đồ phục vụ quy hoạch du lịch cấp tỉnh ở Việt Nam (Lấy ví dụNinh Bình)”. Luận án PTS, Hà Nội 1995- 170 trang. – Vũ Tuấn Cảnh (Chủ trì) “Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam”. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước 1998-2000. (Tài liệu lưu trữ tại viện nghiên cứu phát triển du lịch. Tổng cục du lịch Việt Nam.) – Trần Quốc Nhật, “Quản lý nhà nước về du lịch trong giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế Việt Nam”, luận án thạc sỹ kinh tế,1996. – Lê Thạc Cán “Đánh giá tác động môi trường – phương pháp luận, kinh nghiệm thực tiễn.” Nxb KH KT, Hà Nội 1994. – Phạm Trung Lương “Đánh giá tác động môi trường trong phát triển du lịch của Việt Nam”. Tuyển tập báo cáo hội thảo lần thứ nhất về “đánh giá tác động môi trường” Trung tâm khoa học tự nhiên công nghệ quốc gia, Hà nội 6-7/6/1997. – Phan Trung Lương, “Cơ sở khoa học phát triển du lịch sinh thái Việt Nam.” Báo cáo đề tài khoa học cấp ngành, Hà Nội, 1998 – Kreg Lindberg Dolnal E-Hawkins (1999), “du lịch sinh thái: Hướng dẫn cho các nhà lập kế hoạch quản lý” – Tổng cục du lịch Việt Nam “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2001-2010” tháng 10/2001. – một số công trình khoa học, bài viết khác. Nhìn chung các công trình nghiên cứu các bài viết trên chỉ đề cập đến vấn đề du lịch dưới các góc độ phạm vi rộng hẹp khác nhau. Chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu có hệ thống toàn diện về phát triển du lịch sinh tháiNinh Bình. Đề tài: “Phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, thực trạng giải pháp” không trùng lắp với bất cứ luận văn hoặc đề tài khoa học nào đã công bố. 3. Mục tiêu nhiệm vụ của luận văn * Mục tiêu: Góp phần làm rõ một số vấn đề lý luậnbản về du lịch sinh thái, đưa ra những phương hướng các giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh phát triển du lịch sinh tháiNinh Bình tương xứng với tiềm năng sẵn có của tỉnh. * Nhiệm vụ: + Nghiên cứu tổng hợp một số vấn đề lý luậnbản về du lịch sinh thái + Phân tích đánh giá thực trạng của du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh Ninh Bình kinh nghiệm phát triển du lịch sinh thái ở một số địa phương trong nước một số quốc gia trên thế giới. + Đề xuất phương hướng giải pháp chủ yếu nhằm phát triển du lịch sinh tháiNinh Bình. 4. Đối tượng phạm vi nghiên cứu – Nghiên cứu Du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh Ninh Bình – Luận văn tập trung nghiên cứu số liệu từ năm 1995 đến nay. 5. Phương pháp nghiên cứu – Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vận dụng những quan điểm cơ bản của Đảng, nhà nước về phát triển du lịchLuận văn sử dụng phương pháp hệ thống, phương pháp thống kê, so sánh phương pháp phân tích, tổng hợp. 6. Đóng góp của luận án – Góp phần hệ thống hoá một số vấn đề lý luậnbản về du lịch sinh thái. – Đánh giá tiềm năng thực trạng du lịch sinh tháiNinh Bình từ đó đề xuất phương hướng giải pháp chủ yếu nhằm phát triển du lịch sinh thái của tỉnh. – Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan hoạch định chính sách phát triển du lịch, đặc biệt phát triển du lịch sinh tháitỉnh Ninh Bình dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu giảng dạy. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo phụ lục, luận văn có 3 chương, 9 tiết. Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬNBẢN VỀ DU LỊCH SINH THÁI 1.1. KHÁI NIỆM ĐẶC ĐIỂM CỦA DU LỊCH SINH THÁI 1.1.1. Khái niệm về du lịch sinh thái Cho đến nay, du lịch sinh thái đã đang phát triển nhanh chóng ở nhiều quốc gia trên thế giới ngày càng thu hút được sự quan tâm rộng rãi của các tầng lớp xã hội, đặc biệt là đối với những người có nhu cầu tham quan du lịch nghỉ ngơi. Ngoài ý nghĩa góp phần bảo tồn tự nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học văn hóa cộng đồng; sự phát triển du lịch sinh thái đã đang mang lại những nguồn lợi kinh tế to lớn, tạo cơ hội giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập quốc gia thu nhập cho cộng đồng dân cư địa phương, nhất là đối với vùng sâu, vùng xa, nơi có cảnh quan thiên nhiên, văn hóa hấp dẫn. Mặt khác, DLST còn góp phần vào việc nâng cao dân trí sức khoẻ cộng đồng thông qua giáo dục môi trường, văn hóa, lịch sử nghỉ ngơi giải trí. Là loại hình du lịch có xu thế phát triển nhanh trên phạm vi toàn thế giới, ngày càng chiếm được sự quan tâm của nhiều người, nhiều quốc gia bởi đây là loại hình du lịch có trách nhiệm, có ảnh hưởng lớn đến việc “xanh hoá” ngành du lịch thông qua các hoạt động nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, phát triển phúc lợi cộng đồng đảm bảo cho sự phát triển bền vững. Do tạo được sự quan tâm của xã hội nên nhiều tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu về loại hình du lịch này, mỗi tổ chức cá nhân khi nghiên cứu đều đưa ra những định nghĩa của riêng mình: – Một trong những định nghĩa được coi là sớm về du lịch sinh thái mà đến nay vẫn được nhiều người quan tâm là định nghĩa của Hội Du lịch Sinh thái Quốc tế đưa ra năm 1991: “Du lịch Sinh thái là loại hình du lịch có trách nhiệm đối với các vùng tự nhiên, bảo vệ môi trường duy trì cuộc sống yên bình của người dân địa phương” [12, tr.11]. Định nghĩa này đề cao trách nhiệm của du khách đối với khu vực mà họ đến thăm đó là trách nhiệm giữ gìn, tôn tạo, tránh sự ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tự nhiên, hệ sinh thái, cả cuộc sống của cư dân địa phương. – Theo quỹ bảo tồn động vật hoang dã (WWF – World Wild Fund): “Du lịch sinh thái đề cập tới các hoạt động du lịch đi tới các khu vực thiên nhiên hoang dã, gây tác động tối thiểu tới môi trường tự nhiên cuộc sống của các loài động thực vật hoang dã trong khi mang lại một số lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa phương những người bản địa phục vụ tại đó” [12, tr.11]. Ở định nghĩa này cũng đề cập đến địa điểm có thể tổ chức các tuor du lịch sinh thái, đó là các khu vực tự nhiên hoang dã, điều quan trọng là giảm thiểu những tác động tiêu cực tới môi trường tự nhiên đặc biệt là mang lại những lợi ích kinh tế cho cộng cư dân địa phương những người bản địa làm việc trực tiếp trong ngành du lịch. – Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO – World Tourism Organisation): Du lịch sinh thái là loại hình du lịch được thực hiện tại những khu vực tự nhiên còn ít bị can thiệp bởi con người, với mục đích để chiêm ngưỡng, học hỏi về các loài động thực vật cư ngụ trong khu vực đó, giúp giảm thiểu tránh được các tác động tiêu cực tới khu vực mà du khách đến thăm. Ngoài ra, DLST phải đóng góp vào công tác bảo tồn những khu vực tự nhiên phát triển những khu vực cộng đồng lân cận một cách bền vững đồng thời phải nâng cao được khả năng nhận thức về môi trường công tác bảo tồn đối với người dân bản địa du khách đến thăm [12, tr.11]. Có thể nói đây là một định nghĩa đầy đủ nhất nội dung cũng như những đặc điểm của DLST, đó là địa điểm để tổ chức được một tuor du lịch, mục đích chuyến đi của du khách đặc biệt là việc giáo dục nâng cao nhận thức cho du khách cùng với nó là trách nhiệm của các tổ chức cũng như du khách trong việc bảo tồn giữ gìn môi trường tự nhiên môi trường văn hoá để đảm bảo cho sự phát triển bền vững ở những nơi mà du khách tới thăm quan. Tại hội thảo xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển DLST tháng 9-1999 tại Hà Nội: “Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” [36, tr. ]. Có thể nói đây là một định nghĩa đầu tiên của Việt Nam về du lịch sinh thái, nó mang đầy đủ những ý nghĩa nội dung của loại hình du lịch này. Nó được coi là cơ sở lý luận cho các nghiên cứu ứng dụng thực tế việc phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam. Mặc có thể khác nhau về diễn đạt cách thể hiện nhưng trong các định nghĩa về DLST đều có sự thống nhất cao về nội dung ở bốn điểm: Thứ nhất, phải được thực hiện trong môi trường tự nhiên còn hoang sơ hoặc tương đối hoang sơ gắn với văn hoá bản địa. Thứ hai, có khả năng hỗ trợ tích cực cho công tác bảo tồn các đặc tính tự nhiên, văn hoá xã hội. Thứ ba, có tính giáo dục môi trường cao có trách nhiệm với môi trường. Thứ tư, phải mang lại lợi ích cho cư dân địa phương có sự tham gia của cộng đồng cư dân địa phương. Ngày nay, người ra rất hay xử dụng thuật ngữ du lịch sinh thái để giới thiệu, quảng bá cho các điểm du lịch, tuor du lịch bởi vậy khi xem xét, đánh giá chúng ta cần phải dựa vào các đặc trưng của mỗi loại hình du lịch để có thể phân biệt đúng về hoạt động du lịch đó là Du lịch sinh thái hay là du lịch dựa vào thiên nhiên vì các loại hình này có hình thức tương đối giống nhau nếu không hiểu rõ bản chất người ta sẽ dễ bị nhầm lẫn. 1.1.2. Phân biệt du lịch sinh thái với một số loại hình du lịch tương tự * Phân biệt DLST với DL tự nhiên (nature tourism): Du lịch tự nhiên, theo tổ chức du lịch thế giới (WTO) là loại hình du lịch với động cơ chính của khách du lịch là quan sát cảm thụ tự nhiên. Khái niệm du lịch tự nhiên cho thấy nó mang một ý nghĩa rất rộng bao trùm cả DLST các loại hình du lịch khác. Theo đó, bất cứ hoạt động du lịch nào liên quan đến thiên nhiên đều được coi là du lịch tự nhiên. Kèm theo đó không có yêu cầu mang tính trách nhiệm đối với cộng đồng dân cư địa phương hoặc ràng buộc nào khác đối với tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động du lịch. DLST đòi hỏi tính trách nhiệm cao đối với môi trường cộng đồng cư dân địa phương. * Phân biệt DLST với du lịch mạo hiểm (adventure tourism): Theo tổ chức du lịch Quebec, Canada: du lịch mạo hiểm là hoạt động thể chất ngoài trời hoặc các hoạt động kết hợp diễn ra tại một khu vực tự nhiên nhất định (khu vực hoang dã, tách biệt hoặc đặc thù…). Những hoạt động này thường có tính mạo hiểm mức độ rủi ro tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường (sự cách ly, các tính chất địa lý…) bản chất của các hoạt động các phương tiện vận tải được sử dụng. Khái niệm này cho thấy đây là loại hình du lịch đến với thiên nhiên. Điểm chú ý là loại hình du lịch này không chú ý đến việc tìm hiểu về hệ sinh thái mà khai thác tài nguyên thiên nhiên để phục vụ mục đích mạo hiểm, chinh phục thiên nhiên, thậm chí sẵn sàng sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại để hỗ trợ. Loại hình du lịch mạo hiểm nhằm chứng tỏ khả năng chinh phục tự nhiên của con người, nó hoàn toàn khác với DLST vì DLST đi tìm sự hoà hợp, cùng chung sống hài hoà giữa con người với thiên nhiên (các hệ sinh thái có các loài động thực vật cùng cư ngụ trong đó) * Phân biệt DLST với các loại hình du lịch có chọn lựa (alternative tourism): Du lịch có chọn lựa là loại hình du lịch mới, được đưa ra nhằm thúc đẩy sự trao đổi thông qua du lịch giữa các thành viên của các cộng đồng khác nhau. Nó tìm kiếm sự hiểu biết, gắn kết bình đẳng giữa các thành viên tham gia trong đó. Đây là một tập hợp các loại hình du lịch được đưa ra để phân biệt du lịch đại trà (Du lịch truyền thống). Du lịch đại trà đã dần bộc lộ các tác hại […]… dẫn du khách Theo đó DLST đã mang lại nhiều lợi ích cho người dân địa phương 1.1.4 Du lịch sinh thái ở một số quốc gia trên thế giới một số loại hình du lịch sinh thái thịnh hành ở Việt Nam * Du lịch sinh thái ở một số quốc gia trên thế giới: Tuỳ vào điều kiện môi trường sinh thái của các quốc gia mà người ta phát triển các loại hình DLST khác nhau, các loại hình phát triển du lịch của tỉnh Tiền Giang nói riêng của đồng bằng sông Cửu Long nói chung * Thừa Thiên – Huế: Sự giàu có cả về tài nguyên nhân văn tài nguyên tự nhiên của Thừa Thiên – Huế là tiền đề quan trọng để phát triển nhiều loại hình du lịch như: du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, du lịch biển, du lịch chữa bệnh, du lịch giải trí, du lịch nghiên cứu Các tài nguyên… nguyên du lịch Tài nguyên là yếu tố cơ bản tạo ra sản phẩm của DLST nó cũng tham gia vào việc tạo ra tính mùa vụ trong hoạt động du lịch, quyết định tính nhịp điệu của dòng khách, thị trường khách du lịch Tài nguyên du lịch được xem là tiền đề để du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn hiệu quả hoạt động du lịch càng… nhỏ những du khách cần đến chúng như một điều kiện cho chuyến đi của mình 1.3 Ý NGHĨA CỦA du lịch nói chung DLST nói riêng là mang lại sự vui chơi giải trí, phục hồi sức khoẻ cho con người Với DLST còn là giáo dục du khách ý thức bảo vệ môi trường thấy rõ môi trường sinh thái là yếu… động du lịch, quy hoạch, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng được quan tâm sát sao Xây dựng chiến lược điều kiện thuận lợi của mình, Tiền Giang tranh thủ đầu tư khai thác hợp lý các tiềm năng du lịch của tỉnh, phối hợp nối tuyến với các tỉnh trong khu vực nhất là các tỉnh lân cận với thành phố Hồ Chí Minh; đồng thời, đa dạng hoá sản phẩm du lịch, … thức du lịch đúng đắn mà DLST thực hiện có thể bằng nhiều cách khác nhau: phương pháp hướng dẫn, thuyết minh trực tiếp từ hướng dẫn viên tới khách du lịch, các tờ giới thiệu, tờ bướm thông tin về du lịch, các mô hình, mô phỏng, các phương tiện nghe nhìn Thứ tư, Dựa vào việc khai thác tiềm năng tự nhiên nhân văn du lịch sinh thái mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư bản địa Khi du lịch phát triển và. .. hành du khách quan tâm từng bước đi vào khai thác 1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI * Nhận thức của xã hội: Trong lịch sử nhân loại, du lịch được ghi nhận như là một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người Ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống, văn hóa, xã hội ở các nước có nền kinh tế phát triển Tuy nhiên, để Du lịch. .. thu từ hoạt động du lịch tăng bình quân 15,53% trong giai đoạn 2000-2005, dự kiến tăng 17% trong giai đoạn 2005-2010, chiếm 16% tổng GDP khu vực thương mại – dịch vụ của tỉnh Để DLST Tiền Giang phát triển đạt được những kết quả trên thì ngành du lịch đã thực hiện các biện pháp: – Xã hội hoá hoạt động du lịch, thực hiện mối liên kết giữa ngành du lịch nhân dân (điển hình tại khu du lịch Thới sơn)… hình du lịch hấp dẫn như là các tuor du lịch trên sông nước Cửu Long, du ngoạn trên thuyền tại sông Hồng Loại hình du lịch này đang phát triển mạnh thu hút nhiều du khách đặc biệt là du khách nước ngoài khi đến thăm quan vùng sông nước miền Tây Nam bộ Ở miền Bắc, các công ty lữ hành của Hà Nội đã tổ chức tuor du lịch đi thuyền trên sông Hồng thăm quan phong cảnh hai bên sông, trong chuyến đi du khách… sinh: Đây là loại hình du lịch sinh thái phổ biến thu hút nhiều nhóm thị trường khách khác nhau Đặc biệt là các nhà nghiên cứu, học sinh sinh viên, khách du lịch nước ngoài Những địa điểm thu hút nhiều du khách là: Rừng quốc gia Cúc Phương, Cát Bà, Ba Vì ở Miền Bắc; Cát Tiên ở miền nam; Bạch Mã ở Miền Trung… + Du lịch sinh thái biển: ở nước ta thời gian gần đây bắt đầu phát triển một số loại hình du . thống và toàn diện về phát triển du lịch sinh thái ở Ninh Bình. Đề tài: Phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, thực trạng và giải pháp . Luận văn Phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, thực trạng và giải pháp MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay du lịch

Xem Thêm :   Lịch trình du lịch Sapa 3 ngày 2 đêm hợp lý nhất dành cho du khách

Xem Thêm :  Top 5 app chỉnh sửa video trên điện thoại tốt nhất 2021

Luận văn PháttrênthựcMỞ ĐẦU 1.cấp thiết của đề tài Ngày nayđã trở thành một nhu cầu cần thiết trong đời sống xã hội. Về mặt kinh tế,đã trở thành một ngành quan trọng của nhiều nước công nghiệptriển. Với một số quốc gia,được coi là một cứu cánh để vực dậy nền kinh tế. Tuy nhiên, do việc khai thác tài nguyên không hợp lýthiếu khoa học để phục vụ chokinh tế xã hội mà môi trườngtài nguyênở nhiều nướcthế giới, trong đó có Việt Nam đang phải chịu những tác động tiêu cực, nó đãđang trong quá trình cạn kiệt, suy thoái những tác động tiêu cực của thiên tai ngày càng tăngdiễn ra ở nhiều nơi.là một ngành có mối liên hệ chặt chẽ với môi trường. Trongmôi trường là yếu tố quan trọng bậc nhất ảnh hưởng đến tốc độhoạt động, là nguồn động lực để thu hút kháchlịch. Cùng với sựcủa đời sống kinh tế xã hội,cũng có những sự thay đổi để phục vụ nhu cầu ngày càng đa dạng của con người. Một trong những loại hìnhmới ra đờichiếm được sự quan tâm ngày càng cao của xã hội làthái.chú trọng vào tài nguyênnguồn lựcphương, chú trọng đến hoạt động bảo tồnđảm bảocộng đồng dân cưphương điều này làm chotrở nên hấp dẫn với các nước đang phát triển.được xác định là loại hìnhđặc thù, là tiềm năng thế mạnh củaViệt Nam. Mặcvậy đến nay việc khai thác những tiềm năng tài nguyêncòn ở mức sơ khai, tự phát. Trước đâythậm chí ngay cả thời điểm hiện tại, thuật ngữvẫn đang được hiểu một cách “lờ mờ”, không rõ ràng. Người ta lạm dụng những từ mang ý nghĩa vì môi trường như: “xanh – green”; tiền tố “sinh- eco” để ghép với một danh từ khác như: Chương trình- eco tour, lữ hànhthái – eco travel, nghỉ hè- ecovation- eco – tuorism mà không hiểu (hoặc cốkhông hiểu) ý nghĩa đíchcủa nó. Ý tưởng của các nhà đầu tư, chủ kinh doanh trong lĩnh vựcnày là tích cực. Nhưng kiếnvề môi trườngcách thể hiện sự phục vụ của họ đôi khi lại trái ngược với các nguyên tắc, đặc điểm trongsinh thái.Bình là mộtthuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng cách thủ đô Hà Nội không xa, có một tiềm năng to lớn đểlịch. Có thể nói, ít cóphương nàocả nước với diện tích đất không rộng, người không đông nhưng lại tập trung nhiều nguồn tài nguyêncó giá trị nhưBình: Khu di tích danh thắng Tam Cốc- Bích Động, Kinh đô cũ của hai triều Đinh – Lê, Nhà thờ đáDiệm, rừng quốc gia Cúc Phương, khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long đã đạt đến mức độc đáoquý hiếm. Trong những năm qua, kinh tế xã hội củanói chungnói riêng đã có những tiến bộ đáng kể nhưngtế nó vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh hiện có của tỉnh. Một số chỉ tiêu về kinh tế: Như tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người còn ở mức thấp so với bình quân chung của cả nước, cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm chạp, đặc biệt là các chỉ tiêu vềnhư: số lượngkhách, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ dịch vụcòn nhỏ bé. Hầu hết các hoạt độngcủachỉ dừng lại ở việc khai thác các nguồn tài nguyên tự nhiên sẵn có mà chưa có sự đầu tư đểbền vững. Hoạt độngbước đầu đã đi vào hoạt động nhưng vẫn mangtựlà chủ yếu, việc tổ chức các hoạt độnglịchđã bắt đầu bộc lộ những yếu kém, gây tác động xấu đến cảnh quan, môi trường. Nguyên nhân là do các cấp, các ngành, đơn vị, cá nhân làm duchưa thật sự hiểu rõ vềnhững lợi ích mà nó mang lại, không chú trọng đầu tư (cả về cơ sở hạ tầng, nhân lựckiếnkhoa học), thiếu quy hoạch, chiến lượctriển, hoặc quy hoạch chưa đồng bộ, chưa tiến hành khảo sát kỹ lưỡngtoàn diện về tài nguyêntự nhiên cũng như các điều kiện khác đểDLST. Với những tiềm năng sẵn có củaBình việc chú trọng đầu tư đểkinh tếđặc biệt làDLST không chỉ mang lại những hiệu quả thiếtcho nền kinh tế củamà còn phù hợp với xu thế phátcủa xã hội. Việc nghiên cứu, tìm ra nhữngđểDLST là cần thiết, không chỉ với lýmà còn có giá trịtiễn cao. Do vậy tác giả chọn đề tài “PhátBình,pháp” làm đề tài nghiên cứuvăn thạc sỹ chuyên ngành Kinh tếcủa mình. 2.hình nghiên cứu của đề tài Trong thời gian qua đã có nhiều công trình khoa học cả trong nướcquốc tế nghiên cứu vềtrong đó cóBình: – “Quy hoạch tổng thểBình 1995-2010”, Viện nghiên cứu chiến lượcViệt Nam. – Trần Đức Thanh, “Cơ sở khoa học trong việc thành lập cácđồ phục vụ quy hoạchcấpở Việt Nam (Lấy víBình)”. Luận án PTS, Hà Nội 1995- 170 trang. – Vũ Tuấn Cảnh (Chủ trì) “Tổ chức lãnh thổViệt Nam”. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước 1998-2000. (Tài liệu lưu trữ tại viện nghiên cứulịch. Tổng cụcViệt Nam.) – Trần Quốc Nhật, “Quản lý nhà nước vềtrongđoạntriển mới của nền kinh tế Việt Nam”,án thạc sỹ kinh tế,1996. – Lê Thạc Cán “Đánh giá tác động môi trường – phươngluận, kinh nghiệmtiễn.” Nxb KHKT, Hà Nội 1994. – Phạm Trung Lương “Đánh giá tác động môi trường trongducủa Việt Nam”. Tuyển tập báo cáo hội thảo lần thứ nhất về “đánh giá tác động môi trường” Trung tâm khoa học tự nhiêncông nghệ quốc gia, Hà nội 6-7/6/1997. – Phan Trung Lương, “Cơ sở khoa họcViệt Nam.” Báo cáo đề tài khoa học cấp ngành, Hà Nội, 1998 – Kreg LindbergDolnal E-Hawkins (1999), “duthái: Hướng dẫn cho các nhà lập kế hoạchquản lý” – Tổng cụcViệt Nam “Chiến lượcViệt Nam giai đoạn 2001-2010” tháng 10/2001. -một số công trình khoa học, bài viết khác. Nhìn chung các công trình nghiên cứucác bài viếtchỉ đề cập đến vấn đềdưới các góc độphạm vi rộng hẹp khác nhau. Chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu có hệ thốngtoàn diện vềlịchBình. Đề tài: “Pháttỉnhpháp” không trùng lắp với bất cứvăn hoặc đề tài khoa học nào đã công bố. 3. Mục tiêunhiệm vụ củavăn * Mục tiêu: Góp phần làm rõ một số vấn đề lýcơvềthái, đưa ra những phương hướngcácchủ yếu nhằm đẩy mạnhduBình tương xứng với tiềm năng sẵn có của tỉnh. * Nhiệm vụ: + Nghiên cứutổng hợp một số vấn đề lýcơvề+ Phân tíchđánh giácủatỉnhBìnhkinh nghiệmở một sốphương trong nướcmột số quốc giathế giới. + Đề xuất phương hướngchủ yếu nhằmsinhBình. 4. Đối tượngphạm vi nghiên cứu – Nghiên cứuBình -văn tập trung nghiên cứu số liệu từ năm 1995 đến nay. 5. Phươngnghiên cứu -văn sử dụng phươngduy vật biện chứngduy vậtsử của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vận dụng những quan điểm cơcủa Đảng, nhà nước vềvăn sử dụng phươnghệ thống, phươngthống kê, so sánhphươngphân tích, tổng hợp. 6. Đóng góp củaán – Góp phần hệ thống hoá một số vấn đề lýcơvềthái. – Đánh giá tiềm năngBình từ đó đề xuất phương hướngchủ yếu nhằmcủa tỉnh. -văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan hoạch định chính sáchlịch, đặc biệtNinh Bìnhdùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứugiảng dạy. 7. Kết cấu củavăn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảophụ lục,văn có 3 chương, 9 tiết. Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝCƠVỀ1.1. KHÁI NIỆMĐẶC ĐIỂM CỦA1.1.1. Khái niệm vềCho đến nay,đãđangnhanh chóng ở nhiều quốc giathế giớingày càng thu hút được sự quan tâm rộng rãi của các tầng lớp xã hội, đặc biệt là đối với những người có nhu cầu tham quan dunghỉ ngơi. Ngoài ý nghĩa góp phần bảo tồn tự nhiên, bảo vệ đa dạnghọcvăn hóa cộng đồng; sựđãđang mang lại những nguồn lợi kinh tế to lớn, tạo cơ hộiquyết việc làm, nâng cao thu nhập quốc giathu nhập cho cộng đồng dân cưphương, nhất là đối với vùng sâu, vùng xa, nơi có cảnh quan thiên nhiên, văn hóa hấp dẫn. Mặt khác, DLST còn góp phần vào việc nâng cao dân trísức khoẻ cộng đồng thông qua giáo dục môi trường, văn hóa,sửnghỉ ngơitrí. Là loại hìnhcó xu thếnhanhphạm vi toàn thế giới, ngày càng chiếm được sự quan tâm của nhiều người, nhiều quốc gia bởi đây là loại hìnhcó trách nhiệm, có ảnh hưởng lớn đến việc “xanh hoá” ngànhlịch thông qua các hoạt động nâng cao nhậnvề bảo vệ môi trường,triển phúc lợi cộng đồngđảm bảo cho sựbền vững. Do tạo được sự quan tâm của xã hội nên nhiều tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu về loại hìnhnày, mỗi tổ chức cá nhân khi nghiên cứu đều đưa ra những định nghĩa của riêng mình: – Một trong những định nghĩa được coi là sớm vềmà đến nay vẫn được nhiều người quan tâm là định nghĩa của Hộithái Quốc tế đưa ra năm 1991: “Dulà loại hìnhcó trách nhiệm đối với các vùng tự nhiên, bảo vệ môi trườngduy trì cuộc sống yên bình của người dânphương” [12, tr.11]. Định nghĩa này đề cao trách nhiệm củakhách đối với khu vực mà họ đến thăm đó là trách nhiệm giữ gìn, tôn tạo, tránh sự ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tự nhiên, hệthái,cả cuộc sống của cư dânphương. – Theo quỹ bảo tồn động vật hoang dã (WWF – World Wild Fund): “Du lịchđề cập tới các hoạt độngđi tới các khu vực thiên nhiên hoang dã, gây tác động tối thiểu tới môi trường tự nhiêncuộc sống của các loài độngvật hoang dã trong khi mang lại một số lợi ích kinh tế cho cộng đồngphươngnhững ngườiphục vụ tại đó” [12, tr.11]. Ở định nghĩa này cũng đề cập đếnđiểm có thể tổ chức các tuorlịchthái, đó là các khu vực tự nhiên hoang dã,điều quan trọng là giảm thiểu những tác động tiêu cực tới môi trường tự nhiênđặc biệt là mang lại những lợi ích kinh tế cho cộng cư dânphươngnhững ngườilàm việc trực tiếp trong ngànhlịch. – Theo tổ chứcthế giới (WTO – World Tourism Organisation): Dulà loại hìnhđượchiện tại những khu vực tự nhiên còn ít bị can thiệp bởi con người, với mục đích để chiêm ngưỡng, học hỏi về các loài độngvật cư ngụ trong khu vực đó, giúp giảm thiểutránh được các tác động tiêu cực tới khu vực màkhách đến thăm. Ngoài ra, DLST phải đóng góp vào công tác bảo tồn những khu vực tự nhiênnhững khu vực cộng đồng lân cận một cách bền vững đồng thời phải nâng cao được khả năng nhậnvề môi trườngcông tác bảo tồn đối với người dânkhách đến thăm [12, tr.11]. Có thể nói đây là một định nghĩa đầynhất nội dung cũng như những đặc điểm của DLST, đó làđiểm để tổ chức được một tuorlịch, mục đích chuyến đi củakhách đặc biệt là việc giáo dụcnâng cao nhậnchokhách cùng với nó là trách nhiệm của các tổ chức cũng nhưkhách trong việc bảo tồn giữ gìn môi trường tự nhiênmôi trường văn hoá để đảm bảo cho sựbền vững ở những nơi màkhách tới thăm quan. Tại hội thảo xây dựng chiến lược quốc gia vềDLST tháng 9-1999 tại Hà Nội: “Dulà một loại hìnhdựa vào thiên nhiênvăn hóađịa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồntriển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồngphương” [36, tr. ]. Có thể nói đây là một định nghĩa đầu tiên của Việt Nam vềthái, nó mang đầynhững ý nghĩanội dung của loại hìnhnày. Nó được coi là cơ sở lýcho các nghiên cứuứng dụngtế việctriểnở Việt Nam. Mặccó thể khác nhau về diễn đạtcách thể hiện nhưng trong các định nghĩa về DLST đều có sự thống nhất cao về nội dung ở bốn điểm: Thứ nhất, phải đượchiện trong môi trường tự nhiên còn hoang sơ hoặc tương đối hoang sơ gắn với văn hoáđịa. Thứ hai, có khả năng hỗ trợ tích cực cho công tác bảo tồn các đặctự nhiên, văn hoáxã hội. Thứ ba, cógiáo dục môi trường caocó trách nhiệm với môi trường. Thứ tư, phải mang lại lợi ích cho cư dânphươngcó sự tham gia của cộng đồng cư dânphương. Ngày nay, người ra rất hay xử dụng thuật ngữđể giới thiệu, quảng bá cho các điểmlịch, tuorbởi vậy khi xem xét, đánh giá chúng ta cần phải dựa vào các đặc trưng của mỗi loại hìnhđể có thể phân biệt đúng về hoạt độngđó làhay làdựa vào thiên nhiên vì các loại hình này có hìnhtương đối giống nhau nếu không hiểu rõchất người ta sẽ dễ bị nhầm lẫn. 1.1.2. Phân biệtvới một số loại hìnhtương tự * Phân biệt DLST với DL tự nhiên (nature tourism): Dutự nhiên, theo tổ chứcthế giới (WTO) là loại hìnhlịch với động cơ chính của kháchlà quan sátcảm thụ tự nhiên. Khái niệmtự nhiên cho thấy nó mang một ý nghĩa rất rộng bao trùm cả DLSTcác loại hìnhkhác. Theo đó, bất cứ hoạt độnglịch nào liên quan đến thiên nhiên đều được coi làtự nhiên. Kèm theo đó không có yêu cầu mangtrách nhiệm đối với cộng đồng dân cưphương hoặc ràng buộc nào khác đối với tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động du lịch. DLST đòi hỏitrách nhiệm cao đối với môi trườngcộng đồng cư dânphương. * Phân biệt DLST vớimạo hiểm (adventure tourism): Theo tổ chứcQuebec, Canada:mạo hiểm là hoạt động thể chất ngoài trời hoặc các hoạt động kết hợp diễn ra tại một khu vực tự nhiên nhất định (khu vực hoang dã, tách biệt hoặc đặc thù…). Những hoạt động này thường cómạo hiểmmức độ rủi ro tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường (sự cách ly, cácchấtlý…)chất của các hoạt độngcác phương tiện vận tải được sử dụng. Khái niệm này cho thấy đây là loại hìnhđến với thiên nhiên. Điểm chú ý là loại hìnhnày không chú ý đến việc tìm hiểu về hệthái mà khai thác tài nguyên thiên nhiên để phục vụ mục đích mạo hiểm, chinh phục thiên nhiên, thậm chí sẵn sàng sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại để hỗ trợ. Loại hìnhmạo hiểm nhằm chứng tỏ khả năng chinh phục tự nhiên của con người, nó hoàn toàn khác với DLST vì DLST đi tìm sự hoà hợp, cùng chung sống hài hoà giữa con người với thiên nhiên (các hệthái có các loài độngvật cùng cư ngụ trong đó) * Phân biệt DLST với các loại hìnhcó chọn lựa (alternative tourism): Ducó chọn lựa là loại hìnhmới, được đưa ra nhằmđẩy sự trao đổi thông quagiữa các thành viên của các cộng đồng khác nhau. Nó tìm kiếm sự hiểu biết, gắn kếtbình đẳng giữa các thành viên tham gia trong đó. Đây là một tập hợp các loại hìnhđược đưa ra để phân biệtlịch đại trà (Dutruyền thống).đại trà đã dần bộc lộ các tác hại […]… dẫnkhách Theo đó DLST đã mang lại nhiều lợi ích cho người dânphương 1.1.4ở một số quốc giathế giớimột số loại hìnhthịnh hành ở Việt Nam *ở một số quốc giathế giới: Tuỳ vào điều kiện môi trườngcủa các quốc gia mà người tacác loại hình DLST khác nhau, các loại hình du lịch sinh thái rất đa dạng và. .. lịch, tận dụng lợi thế so sánh,củaTiền Giang nói riêngcủa đồng bằng sông Cửu Long nói chung * Thừa Thiên – Huế: Sự giàu có cả về tài nguyên nhân văntài nguyên tự nhiên của Thừa Thiên – Huế là tiền đề quan trọng đểnhiều loại hìnhnhư:văn hóa,thái,biển,chữa bệnh,trí,nghiên cứu Các tài nguyên… nguyênTài nguyên là yếu tố cơtạo ra sản phẩm của DLSTnó cũng tham gia vào việc tạo ramùa vụ trong hoạt độnglịch, quyết địnhnhịp điệu của dòng khách, thị trường kháchTài nguyênđược xem là tiền đề để phát triển du lịch sinh thái Thực tế cho thấy, tài nguyêncàng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫnhiệu quả hoạt độngcàng… nhỏ nhữngkhách cần đến chúng như một điều kiện cho chuyến đi của mình 1.3 Ý NGHĨA CỦA PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI * Góp phần bảo vệ tài nguyên môi trường phát triển du lịch bền vững: Chức năng củanói chungDLST nói riêng là mang lại sự vui chơitrí, phục hồi sức khoẻ cho con người Với DLST còn là giáo dụckhách ýbảo vệ môi trườngthấy rõ môi trườnglà yếu… độnglịch, quy hoạch, đầu tưcơ sở hạ tầng được quan tâm sát sao Xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái trong dài hạn – Từ vị tríđiều kiện thuận lợi của mình, Tiền Giang tranh thủ đầu tưkhai thác hợp lý các tiềm năngcủa tỉnh, phối hợp nối tuyến với cáctrong khu vực nhất là cáclân cậnvới thành phố Hồ Chí Minh; đồng thời, đa dạng hoá sản phẩmlịch, …đúng đắn mà DLSThiện có thể bằng nhiều cách khác nhau: phươnghướng dẫn, thuyết minh trực tiếp từ hướng dẫn viên tới kháchlịch, các tờ giới thiệu, tờ bướm thông tin vềlịch, các mô hình, mô phỏng, các phương tiện nghe nhìn Thứ tư, Dựa vào việc khai thác tiềm năng tự nhiênnhân vănmang lại lợi ích cho cộng đồng dân cưKhivà. .. hànhkhách quan tâmtừng bước đi vào khai thác 1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ* Nhậncủa xã hội: Trongsử nhân loại,được ghi nhận như là một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người Ngày nay,đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống, văn hóa, xã hội ở các nước có nền kinh tếTuy nhiên, đểlịch. .. thu từ hoạt độngtăng bình quân 15,53% trongđoạn 2000-2005,kiến tăng 17% trongđoạn 2005-2010, chiếm 16% tổng GDP khu vực thương mại – dịch vụ củaĐể DLST Tiền Giangđạt được những kết quảthì ngànhđãhiện các biện pháp: – Xã hội hoá hoạt độnglịch,hiện mối liên kết giữa ngànhnhân dân (điển hình tại khuThới sơn)… hìnhhấp dẫn như là các tuorsông nước Cửu Long,ngoạnthuyền tại sông Hồng Loại hìnhnày đangmạnhthu hút nhiềukhách đặc biệt làkhách nước ngoài khi đến thăm quan vùng sông nước miền Tây Nam bộ Ở miền Bắc, các công ty lữ hành của Hà Nội đã tổ chức tuorđi thuyềnsông Hồng thăm quan phong cảnh hai bên sông, trong chuyến đikhách… sinh: Đây là loại hìnhphổ biến thu hút nhiều nhóm thị trường khách khác nhau Đặc biệt là các nhà nghiên cứu, họcviên, kháchnước ngoài Nhữngđiểm thu hút nhiềukhách là: Rừng quốc gia Cúc Phương, Cát Bà, Ba Vì ở Miền Bắc; Cát Tiên ở miền nam; Bạch Mã ở Miền Trung… +biển: ở nước ta thời gian gần đây bắt đầumột số loại hình. thống và toàn diện về phát triển du lịch sinh thái ở Ninh Bình. Đề tài: Phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, thực trạng và giải pháp . Luận văn Phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, thực trạng và giải pháp MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay du lịch

Xem Thêm :   23 tác dụng của bột ca cao nguyên chất

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Du Lịch

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Kiến Thức Chung

Related Articles

Back to top button