Kiến Thức Chung

Giá trị & hạn chế của Triết học Ấn Độ cổ đại

Ngày đăng: 05/12/2013, 15:46

Triết học Ấn Độ thượng cổ Giá trị & hạn chế của Triết học Ấn Độ cổ đại GVHD : TS. Phạm Lê Quang Học viên Thực hiện : Lê Văn Trung Trực Trang 1 Chương 1 : Mở Đầu 1.1. Lý do chọn đề tài Triết học ra đời vào khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI tr CN với những thành tựu rực rỡ trong các nền triết học cổ, trung đại Ấn Độ. Do phạm vi phản ánh rộng, phong phú, phong phú, bao quát được nhiều lớp sự vật khác nhau của toàn cầu, nhiều ngành nghề khác nhau của khoa học và nhận thức. Điều này trổ tài “các nhà triết học Ấn Độ cổ, trung đại đã một tư duy phân loại đạt đến trình độ cao và sự phân tích sâu sắc đến kinh ngạc. Họ không dừng lại ở các vấn đề nhân sinh quan mà đặc biệt quan tâm đến các vấn đề bản thể luận. Trong đời sống tinh thần của người Ấn Độ, triết học một vai trò khá quan trọng, chính là sự gần gũi và gắn liền với các tôn giáo, mang đượm màu sắc chủ nghĩa duy linh, chính chủ nghĩa duy linh đã cho Ấn Độ khả năng chống lại các cuộc chiến tranh của thù trong giặc ngoài. Hết người Hy Lạp, người Mông Cổ, đến người Pháp, người Anh đã muốn đồng hóa nền văn minh của đất nước này, nhưng người dân Ấn Độ vẫn ngẩng cao đầu. Trong suốt quá trình lịch sử của mình, đất nước Ấn Độ tồn tại vì một mục đích: Đấu tranh cho chân lý và chống lại mọi sai lầm . Lịch sử tư tưởng Ấn Độ đã và đang minh chứng về những cuộc kiếm tìm vô tận của trí tuệ trong quá khứ, hiện tại và tương lai”. Ấn Ðộ là thiên đường của đủ loại hình tôn giáo, từ mê tín sâu sắc, với những lý thuyết khác nhau và các vị thánh, khất sĩ, ẩn sĩ, hiền giả và người vô tín ngưỡng. Theo thống kê năm 2001, người Ấn Độ theo Ấn giáo 80.5%, Hồi giáo 13.4 %, Kitô giáo 2.3%, Sikh 1.9%, các tôn giáo khác 1.8%, không xác nhận 0.1%. Ở Việt Nam, những tư tưởng triết học Ấn Độ tác động rất lớn, nó đã cấu thành nền văn hóa dân tộc, cũng như tư cách, đạo đức của mỗi người dân Việt. So với đời sống trí não nó được trổ tài trên nhiều ngành nghề của xã hội và thay đổi theo thời gian lịch sử. Hiện tại, trong đời kiện quốc gia đang phát triển và hòa nhập với toàn cầu thì tác động của triết học Ấn Độ cổ, trung đại cũng những Giá trị & hạn chế của Triết học Ấn Độ cổ đại GVHD : TS. Phạm Lê Quang Học viên Thực hiện : Lê Văn Trung Trực Trang 2 thay đổi khác nhau, nhân tố tác động tích cực và cũng nhân tố tác động tiêu cực trong đời sống trí não con người Việt Nam. Vì thế, việc tìm hiểu các tôn giáo, trường phái triết học lớn và lâu đời nhất toàn cầu được tạo dựng từ thời cổ trung đại của Ấn Độ, nhằm tìm thấy những giá trịhạn chế của nó là lý do chọn đề tài tiểu luận này. 1.2 Tình hình tìm hiểu của đề tài Đã nhiều công trình tìm hiểu về triết học Ấn Độ cổ, trung đại và đạt được những kết quả đáng trân trọng. Nhiều tác giả đã đề cập một cách tổng quan hóa và đi sâu tìm hiểu cụ thể ở nhiều góc độ khác nhau, làm phong phú thêm nhận thức của nhân loại về triết học Ấn Độ cổ, trung đại. Phân tích những giá trịhạn chế của triết học Ấn Độ cổ, trung đại là vấn đề đã được nhiều nhà tìm hiểu đề cập. Tuy nhiên, dưới góc độ nhìn nhận của cá nhân về những giá trịhạn chế của triết học Ấn Độ cổ, trung đại giá trị hết sức trọng yếu trong đời sống xã hội của người Việt Nam hiện tại, nhất là trong giai đoạn xây dựng hình ảnh con người mới con người xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Vì vậy, trong giới hạn của tiểu luận, sẽ kế thừa và phát huy những công trình đi trước để nhìn nhận, phân tích và mang ra những giá trịhạn chế của Triết học Ấn Độ cổ, trung đại, qua đó, cá nhân liên hệ đến thực tiễn tại Việt Nam. 1.3 Mục đích và nhiệm vụ tìm hiểu 1.3.1 Mục đích Tiểu luận sẽ tổng quan về triết học Ấn Độ cổ đại, với cách nhìn nhận, phân tích cá nhân mang ra những giá trịhạn chế của Triết học Ấn Độ cổ đại, qua đó, cá nhân liên hệ đến thực tiễn Việt Nam. 1.3.2 Nhiệm vụ Tổng quan nội dung tư tưởng triết học Ấn Độ cổ, trung đại; mang ra những giá trị tích cực và hạn chế triết học Ấn Độ cổ, trung đại; liên hệ thực tiễn Việt Nam, đề xuất hướng phát huy những giá trị tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực của nền triết học Ấn Độ cổ trung đại đến Việt Nam hiện tại. Giá trị & hạn chế của Triết học Ấn Độ cổ đại GVHD : TS. Phạm Lê Quang Học viên Thực hiện : Lê Văn Trung Trực Trang 3 1.4 sở lý luận và phương pháp tìm hiểu 1.4.1 sở lý luận Trên ý kiến, lập trường của Triết học Mác; Tư tưởng của Hồ Chí Minh về triết học, tôn giáo cổ, trung đại Ấn Độ; Quan niệm, đường lối, quyết sách của Đảng và Nhà nước về con người và xây dựng hình ảnh con người Việt Nam trong thời kỳ mới. Lập trường khách quan, trung thực, tôn trọng giá trị lịch sử, nguyên văn tác phẩm với hoàn cảnh xuất hiện của nền triết học Ấn Độ. 1.4.2 Phương pháp tìm hiểu Sử dụng các phương thu thập thông tin và tài liệu; phân tích và tổng hợp, đối chiếu và so sánh theo chuỗi thời gian lịch sử; phối hợp các phương pháp tổng quan hóa các dữ liệu thu thập được trên sở đánh giá thực tiễn thông dụng. 1.5 Những đóng góp của tiểu luận Tiểu luận góp phần vào việc tìm hiểu những giá trịhạn chế của nền triết học Ấn Độ cổ, trung đại một cách tương đối đầy đủ hơn. Liên hệ đối chiếu, phân tích tác động của nó trong đời sống xã hội, đồng thời nêu một số phương án phát huy những tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của triết học Ấn Độ cổ, trung đại trong quá trình đổi mới của Việt Nam. 1.6 Kết cấu của Tiểu luận Chương 1 : Phần mở màn : nêu lên lý do tìm hiểu, mục đích và nhiệm vụ của đề tài; trình bày sơ bộ về phương pháp tìm hiểu, những đóng góp của đề tài. Chương 2 : Tổng quan về điều kiện ra đời, tạo dựng và phát triển của triết học Ấn Độ cổ, trung đại. Nội dung bản của các tư tưởng triết học Ấn Độ cổ, trung đại, các tôn giáo lớn thời kỳ này. Nêu lên những giá trịhạn chế của nền triết học Ấn Độ cổ trung đại. Chương 3 : Tác động của nền triết học Ấn Độ cổ, trung đại đến đời sống kinh tế xã hội Việt Nam. Đặc biệt trong giai đoạn hiện tại, tất cả chúng ta đang xây dựng hình ảnh con người mới. Mang ra một vài phương án bản nhằm phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực trong đời sống kinh tế xã hội Việt Nam. ————–/|————- Giá trị & hạn chế của Triết học Ấn Độ cổ đại GVHD : TS. Phạm Lê Quang Học viên Thực hiện : Lê Văn Trung Trực Trang 4 Chương 2 : Triết học Ấn Độ cổ đại – những giá trị tích cực và hạn chế 2.1 Điều kiện ra đời, tạo dựng và phát triển triết học Ấn Độ cổ đại 2.1.1 Điều kiện ra đời 2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên Điều kiện thiên nhiên và khí hậu của Ấn Độ rất phức tạp. Địa hình vừa nhiều núi non trùng điệp, vừa nhiều sông ngòi với những vùng đồng bằng trù phú; vùng khí hậu nóng, ẩm, mưa nhiều, vùng lạnh giá, quanh năm tuyết phủ, lại cũng những vùng sa mạc khô cằn, nóng nực. Tính phong phú, khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên và khí hậu là những thế lực tự nhiên đè nặng lên đời sống và ghi dấu ấn đậm nét trong tâm trí người Ấn Độ cổ. 2.1.1.2 Điều kiện xã hội 2.1.1.2.1 Thời kỳ văn minh sông Ấn (Hay nền văn minh Harappa) Xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ III đầu thế kỷ II tr. CN. Qua các di chỉ khảo cổ cho thấy đây là một nền văn minh đồ đồng mang tính chất đô thị của một xã hội đã vượt qua trình độ nguyên thủy, đang tiến vào giai đoạn đầu của xã hội chiếm hữu nô lệ. Sự phát triển của nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp đã đạt tới một trình độ nhất định. Thời kỳ này cũng đã chữ viết, được thấy trên các quả ấn bằng đồng hay đất nung. Tôn giáo cũng đã xuất hiện triệu chứng qua các hình nổi điêu khắc trên các quả ấn. 2.1.1.2.2 Thời kỳ Vêđa (khoảng từ thế kỷ XV đến thế kỷ VII tr.CN) Thời kỳ này tạo dựng các quốc gia chiếm hữu nô lệ trước hết trên lưu vực sông Hằng và sông Ấn. Đóchế độ xã hội dựa trên sự phân biệt về chủng tộc, màu da, dòng dõi, nghề nghiệp, tôn giáo, quan hệ giao tiếp, tục cấm kỵ hôn nhân .và sự phân biệt đẳng cấp sâu sắc góp phần quy định cấu xã hội và tác động đến hình thái tư tưởng Ấn Độ cổ đại, quá trình này tạo dựng nên các tôn giáo lớn mà tư tưởng và tín ngưỡng của nó đã tác động đậm nét tới đời sống trí não xã hội Ấn Độ cổ đại. Giá trị & hạn chế của Triết học Ấn Độ cổ đại GVHD : TS. Phạm Lê Quang Học viên Thực hiện : Lê Văn Trung Trực Trang 5 2.1.1.2.3 Thời kỳ từ thế kỷ VII đến thế kỷ I tr. CN Các quốc gia chiếm hữu nô lệ đã thực sự phát triển, thường xuyên thôn tính lẫn nhau kéo theo sự tạo dựng các quốc gia lớn. Trong thời kỳ này nền kinh tế, xã hội và văn hóa Ấn Độ những bước phát triển tiến bộ vượt bậc. Mặc dù nền kinh tế tự nhiên vẫn chiếm ưu thế, nhưng thương nghiệp, buôn bán cũng phát triển tạo dựng một tầng lớp mới trong cấu giai cấp xã hội – tầng lớp thương nhân và thợ thủ công. Tiền kim loại xuất hiện, nhiều tp trở thành trung tâm công thương nghiệp trọng yếu. Nhiều con đường thương mại thủy bộ nối liền các thành this với nhau và thông thương quốc tế dần dần xuất hiện. 2.1.2 Quá trình tạo dựng và phát triển của triết học Ấn Độ cổ đại 2.1.2.1 Triết học thời kỳ Véđa Kinh Véđa là những bộ kinh cổ nhất của Ấn Độcủa nhân loại. Đó là một bộ sách thu lượm toàn bộ những câu ca dao, vịnh phú, những tư tưởng, ý kiến, những tập tục, lễ nghi . của nhiều bộ lạc người Arya. Chữ Véđa bắt nguồn từ căn tự “vid”, nghĩa đen là “tri thức”, “hiểu biết”. Nó cũng được dùng chung với nghĩa là “thánh kinh”, là “sự sáng suốt cao nhất”. Tư tưởng triết học trong kinh Véđa là tư tưởng tôn giáo. Họ giải thích các hiện tượng tự nhiên và xã hội thông qua các vị thần, 3 vị thần (3 ngôi tối linh) : thần lửa thống trị hạ giới, thần gió thống trị không trung, thần mặt trời thống trị thiên giới. Tư tưởng về xã hội bao gồm thần linh, con người và quỷ ác. Về vũ trụ : thiên giới, trần thế, địa ngục. Tư tưởng triết học trong kinh Upanishad: (đây là một trong những bộ kinh trọng yếu nhất của kinh Véđa) Upanishad nghĩa là ngồi trang nghiêm cùng giảng giải lý thuyết cao siêu, huyền bí với thầy. Upanishad không phải là một tác phẩm trình bày hệ thống, chặt chẽ những ý kiến của một trường phái triết học, mà được viết dưới hình thức hội thoại giữa thầy và trò. Nội dung đa số bình giải ý nghĩa sâu xa của bài kinh, các nghi lễ của kinh Véđa. Với xu hướng chính là biện hộ học thuyết duy tâm, tôn giáo trong kinh Véđa. Họ giải thích “tinh thần sáng tạo tối cao” là thực thể duy nhất, nước, tồn tại vĩnh viễn, bất tử và sinh ra toàn bộ Giá trị & hạn chế của Triết học Ấn Độ cổ đại GVHD : TS. Phạm Lê Quang Học viên Thực hiện : Lê Văn Trung Trực Trang 6 toàn cầu, linh hồn con người chỉ là một phòng ban của “inh hồn tối cao”. Sự xuất hiện của Upanishad được coi là “bước nhảy” hoàn toàn từ toàn cầu quan thần thoại, tôn giáo sang tư duy triết học. 2.1.2.2 Triết học thời kỳ Ramayana và Mahabharata Ramayana gồm 24 ngàn câu thơ đôi, chia thành bảy quyển (Kanda), mô tả cuộc sống gian truân của hoàng tử Rama và vợ là công nương Sita với sự bảo lãnh của thần khỉ Hanuman; việc Ravana cưới Sita, trận chiến tranh chống lại quỉ sứ, sự trở về kinh đô Ayodhya, và cuối cùng chết chóc và lên trời của Rama. Nhiều chuyện phiêu lưu mô tả rất sinh động và rộng lớn trong Ramayana cũng như nội dung phi thường của nó đã làm tác phẩm này, cùng với Mahabharata trở thành nguồn xúc cảm chính cho văn học Ấn Ðộ. Mahabharata bao gồm hơn 110.000 câu thơ, và là cuốn thiên sử thi dài nhất trên toàn cầu. Tác phẩm này được coi là “Đại Bách khoa toàn thư” về văn hóa truyền thống, về các truyền thuyết và về các thể chế chính trị – xã hội của Ấn Độ cổ xưa. Nó là tấm gương phản chiếu toàn bộ đời sống con người Ấn Độ truyền thống như lời một câu ngạn ngữ cổ: “Cái gì không thấy được ở trong Mahabharata thì cũng không thể nào thấy được ở Ấn Độ.” Nội dung bản của bộ sử thi Mahabharata nói về trận chiến tranh kịch liệt giữa hai dòng họ Kaurava và Pandava, cả hai đều là dòng dõi vua Bharata vào khoảng thế kỷ 11 TCN đến thế kỷ 10 TCN. Do đó tên Mahabharata nghĩa là “các truyện vĩ đại của triều đại nhà Bharata”. Bên cạnh nội dung chính, chỉ chiếm chừng 1/4 độ dài tác phẩm, bộ sử thi này còn rất nhiều sự tích thần linh, những truyện ngụ ngôn về muông thú, những cuộc phiêu lưu và những mẩu truyện tình thú vị, mê hoặc li kì (như chuyện nàng Savitri cãi lại Diêm vương để được lấy chàng trai đốn củi .). Nhưng trong tác phẩm Mahabharata, các giáo sĩ Ấn Độ giáo đã mang vào những giáo lý triết học tự biện siêu hình về pháp (dharma), nghiệp (karma), về sự giải thoát (moksha), những ẩn dụ triết học, châm ngôn xử thế . 2.1.2.3 Triết học chính thống (Samkhuya, Nyaya, Vaisesika, Yoga, Mimansa, Vêdanta,) Giá trị & hạn chế của Triết học Ấn Độ cổ đại GVHD : TS. Phạm Lê Quang Học viên Thực hiện : Lê Văn Trung Trực Trang 7 Triết học Samkhuya mang tính chất nhị nguyên luận, họ thừa nhận sự tồn tại của 2 bản nguyên luận : bản nguyên luận vật chất Prakriti và bản nguyên luận trí não Purusa. Prakriti nghĩa là cái sinh ra cái khác, trước hết, Prakriti sinh ra trị năng : this năng, thính năng, khứu năng, vị năng và xúc năng rồi sinh ra trí tuệ cùng với quan nhận thức của con người. Purusa là ý thức trực quan của sinh vật, khi Purusa thúc đẩy vào Prakriti là yếu tố thiết yếu cho hoạt động của các sinh vật. Triết học Nyaya thừa nhận sự tồn tại của vũ trụ vật chất gồm những nguyên tử cấu trúc nên sự vật. Theo Nyaya toàn cầu vật chất gồm : đất, nước, lữa và không khí. Nguyên tử được gọi là Anu đặc tính không thay đổi và tồn tại vĩnh viễn. Triết học Nyaya thừa nhận trong vũ trụ nhiều linh hồn gọi là Ya, tính chất của ý thức là muốn, chán ghét, vui thích, đớn đau. Trong logic học và nhận thức học Nyaya đề xướng thuyết tam đoạn luận và đề cao nhận thức kinh nghiệm của con người. Theo triết học Vaisesika toàn cầu bao gồm những thực thể chất lượng và số lượng. Thực thể 9 dạng : đất, nước, lữa, gió, không khí, thời gian, không gian, linh hồn và trí tuệ; 5 thực thể đầu là thực thể vật lý. Nguyên tử là phần tử nhỏ nhất cấu trúc nên các thực thể vật lý. Nguyên tử tồn tại vĩnh viễn, không thể phân tách, không quảng tính, không nhìn thấy, nhưng khi các nguyên tử phối hợp với nhau sẽ tạo thành các vật thể trong vũ trụ. Nguyên nhân vận động của các nguyên tử là do linh hồn toàn cầu tối cao điều khiển. linh hồn tối cao sáng tạo ra vũ trụ và lãnh đạo toàn cầu và linh hồn cá biệt của con người. Yoga là hệ thống lý luận về phương pháp tu luyện mà người tu hành chấp thuận nhằm giải thoát linh hồn khỏi sự ràng buộc với thể, nhằm vươn tới một năng lực siêu nhiên. Việc tu luyện phải kiên trì thực hiện từng bước 1 qua “bát bảo tu pháp”. Triết học Mimàsa thừa nhận sự tồn tại của trí não và vật chất trong toàn cầu. Nhưng họ cho rằng “tinh thần thế giới vô ngã” là thực thể trước, sáng tạo và chi phối toàn vũ trụ. Và cho rằng con người thường tính thích thú dục vọng và Giá trị & hạn chế của Triết học Ấn Độ cổ đại GVHD : TS. Phạm Lê Quang Học viên Thực hiện : Lê Văn Trung Trực Trang 8 kiêu căng, vì vậy con người cần tập trung chấp hành bổn phận xã hội và chủ nghĩa tôn giáo. Védànta nghĩa đen là sự hoàn thiện kinh Véda do Baharayana tạo dựng khoảng thế kỷ thứ II trước CN. Theo Védànta “tinh thần vũ trụ tối cao” Brahman là nguyên nhân sinh ra toàn bộ. Brahman là thực thể tuyệt đối bất tử, là linh hồn là nguồn sống của vũ trụ. Cũng theo Védànta để giải thoát con người khỏi sự ham muốn nhục dục thì phải dốc lòng tu luyện để mang linh hồn đồng nhất với “tinh thần vũ trụ tối cao”. 2.1.2.4 Triết học không chính thống (Lokayata hay còn gọi là Carvaka, Budđhism-Phật giáo, Jainism –Kỳ na giáo) Triết học Lokayata : Đây là trường phái triết học duy vật cổ xưa, chống lại ý kiến thần linh trong kinh Véda. Họ cho rằng toàn bộ mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ đều do 4 yếu tố : đất, nước, lửa và không khí cấu thành. Ý thức, cảm nghĩ con người là do sự phối hợp của 4 yếu tố này. Họ khắc phục mối quan hệ giữa ý thức và vật chất một cách mộc mạc. Họ hiểu ý thức là tính chất cố hữu của vật chất, rời khỏi thể thì người ta không thể ý thức. Lokayata kịch liệt phê phán ý kiến về hạnh phúc ở thiên đường sau khoảng thời gian chết. Họ chủ trương hãy để con người thưởng thức toàn bộ những cay đắng và ngọt ngào của cuộc sống. Triết học Phật giáo : xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ VI tr. CN ở miền Bắc ấn Độ, phía Nam dãy Hymalaya, vùng biên giới giữa Ấn Độ với Nêpan hiện tại. Đạo Phật ra đời trong làn sóng phản đối sự ngự trị của đạo Bàlamôn và chế độ đẳng cấp, lý giải căn nguyên nỗi khổ và tìm con đườn giải thoát con người khỏi nỗi khổ đó. Tư tưởng triết lý Phật giáo ban đầu chỉ truyền miệng, sau đó viết thành văn trổ tài trong kinh “Tam tạng” (Tripitaka) gồm ba phòng ban: 1) Tạng kinh (Sutra – pitaka) ghi lời Phật dạy; 2) Tạng luật (Vinaya – pitaka) gồm các giới luật của đạo Phật; 3) Tạng luận (Abhidarma – pitaka) gồm các bài kinh, các tác phẩm luận giải, bình chú về giáo pháp của các cao tăng, học giả về sau. Triết học Kỳ na giáo : vật chất những đặc tính như sờ mó được, tiếng động, mùa vị, màu sắc. Các vật thể tạo dựng là do các nguyên tử phối hợp với nhau theo Giá trị & hạn chế của Triết học Ấn Độ cổ đại GVHD : TS. Phạm Lê Quang Học viên Thực hiện : Lê Văn Trung Trực Trang 9 nhiều dạng khác nhau. Kỳ na giáo thừa nhận linh hồn, linh hồn là lực lượng toàn năng nhưng khả năng bị hạn chế bởi những thân xác cụ thể. Muốn giải phóng linh hồn toàn năng khỏi hạn chế thì con người phải tu luyện đạo đức, bất sát, bất bạo lực, không mưu hại đến sinh linh, đồng thời sống khổ hạnh, không của riêng, ăn chay và không mảnh vải che thân. 2.2 Những nét đặc thù của triết học Ấn Độ cổ, trung đại Các luận thuyết triết học được phát sinh từ tư tưởng triết học trước hết là kinh tháng Véda, một trong những bộ kinh cổ của Ấn Độ. Các luận thuyết triết học sau thường dựa vào các luận thuyết trước. Các nhà triết học sau chỉ là phát triển các ý kiến ban đầu không đạt mục đích tạo ra thứ triết học mới. Đa số hệ thống triết học dựa vào tri thức đã trong Vêđa, mức độ nội dung của nó đã thay đổi. Các luận thuyết triết học Ấn Độ cổ đại rất Note tới vấn đề nhân bản, đó là vấn đề nhân sinh quan và con người được giải thoát. Hầu hết các trường phái triết học đều bàn tới cuộc sống con người, dù cách tiếp cận của các trường phái triết học khác nhau. “Tính không” được Note nhiều trong một số trường phái triết học, đem đối lập “không” và “hữu”, qui cái “hữu” về cái “không”. Dấu hiệu một trình độ tư duy trừu tượng khá cao ở triết học Ấn Độ cổ đại. Giữa triết học và tôn giáo, duy vật và duy tâm, biện chứng và siêu hình thường đan xen vào nhau, tạo ra vẻ đẹp riêng của nhiều luận thuyết triết học Ấn Độ cổ đại. Về vấn đề bản thể luận : Quan niệm duy tâm, tôn giáo và nhị nguyên luận trong triết học Ấn Độ cổ đại đều thừa nhận : “Tinh thần thế giới” Brátman sáng tạo và chi phối toàn bộ vũ trụ, linh hồn của con người (Atman) là hiện thân của Brátman tồn tại vĩnh viễn theo luật luân hồi. Mục đích của linh hồn là siêu thoát, là điều kiện để linh hồn cá nhân thống nhất với “tinh thần thế giới”. Muốn vậy, con người không tham gia gì thay đổi cuộc sống trần thế, coi đó là cuộc sống xấu xa để thiên định nhờ sự linh báo của kinh Vêđa. Quan niệm duy vật trong triết học Ấn Độ cổ đại thừa nhận toàn cầu là vật chất, bao gồm vật chất Thô và Tinh. Không lực lượng thần thánh nào tham gia, thừa nhận toàn cầu vật chất vận động, không sự tồn tại của linh hồn phi vật chất, con người là sản phẩm của vật chất. Giá trị & hạn chế của Triết học Ấn Độ cổ đại GVHD : TS. Phạm Lê Quang Học viên Thực hiện : Lê Văn Trung Trực Trang 10 Về phép biện chứng : phép biện chứng chất phát thô sơ là một giá trị lớn của triết học Ấn Độ cổ đại, thừa nhận toàn cầu vật chất vận động, thay đổi theo luật nhân quả. Thấy được tranh chấp của toàn cầu vật chất, nằm trong sự thống nhất giữa hai mặt đối lập. Toàn cầu bao quanh con người vừa vận động, vừa đứng im. Đó là một tranh chấp con người cần phải chấp thuận. Vấn đề đạo đức : Đạo đức là một trong những hình thái ý thức sớm nhất của các hình thái ý thức xã hội. Tranh chấp lý tưởng của xã hội Ấn Độ cổ đại là con người đạo sĩ tâm linh, là con người ý thức vũ trụ. Các nhà triết học duy tâm, tôn giáo chủ trương con người từ bỏ cuộc sống trần tục xấu xa, không tham gia gì vào cuộc sống đó, phái thiền hoặc Niết bàn, nghĩa là chủ trương sống khổ hạnh. Các nhà duy vật cho rằng : Đời người phải được hưởng mọi thú vui của cuộc sống, quyền đó là hợp với tự nhiên. Nói chung, triết học Ấn Độ cổ đại những đặc trưng : Thứ nhất, triết học ấn độ cổ, trung đại tạo dựng rất sớm, nhưng vận động phát triển chậm rì rì, điều này phản ánh sự trì trệ của xã hội Ấn Độ cổ, trung đại; triết học Ấn Độ cổ, trung đại nội dung phong phú nhưng không mang tính cách mạng; các nhà triết học thường kế tục mà không gạt bỏ hệ thống triết học trước, không đặt cho mình nhiệm vụ phải sáng tạo ra một hệ thống triết học mới. Tuy vậy, triết học Ấn Độ cổ trung đại phản ánh sâu sắc đời sống sinh hoạt của xã hội lúc đó từ tâm lý, đạo đức đến ý kiến chính trị, xã hội, pháp luật. Thứ hai, triết học Ấn Độ cổ, trung đại gắn bó chặt chẽ với tôn giáo, trên sở tín ngưỡng tôn giáo tạo dựng nên các hệ thống triết học – tôn giáo. Vì vậy, So với các nền triết học cổ đại khác thì triết học Ấn Độ cổ, trung đại là một nền triết học tác động lớn của tư tưởng tôn giáo. Thứ ba, các hệ thống triết học – tôn giáo ở Ấn Độ cổ, trung đại đều quan tâm tới vấn đề nhân sinh quan, nhất là vấn đề luân hồi, nghiệp báo. Các luận điểm triết học Ấn Độ cổ đại rất Note đến vấn đề nhân bản đó là nêu lên con đường giải thoát con người dưới góc độ tâm linh.

Xem Thêm :   Bán Sách Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam Qua Các Kỳ Đại Hội

Xem Thêm :  so sánh tỷ lệ hao hụt giữa các loại gà trong quá trình giết mổ

– Xem thêm –

Xem thêm: Giá trị & hạn chế của Triết học Ấn Độ thượng cổ , Giá trị & hạn chế của Triết học Ấn Độ thượng cổ

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Giáo Dục

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Kiến Thức Chung

Related Articles

Back to top button