Kiến Thức Chung

Các phong cách chức năng ngôn ngữ Tiếng Việt

Ngày đăng: 06/04/2013, 10:21

Các phong cách chức năng ngôn ngữ Tiếng Việt I. VẤN ĐỀ PHÂN LOẠI 1. Ý nghĩa Ðứng về mặt ngôn ngữ học thì việc phân loại và mô tả các ngữ tiếng Việt là yêu cầu lí thuyết đặt ra cho bất kì ngôn ngữ nào đã và đang ở thời kì phát triển. Trong giao tiếp, phong phú và sâu sắc, thâm thuý và tinh tế, toàn bộ những khả năng biến hoá của tiếng Việt đều trổ tài trong phong cách và qua phong cách. Toàn bộ những vấn đề trọng yếu như Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, Chuẩn hoá ngôn ngữ, phát triển và nâng cao tiếng Việt văn hoá . đều phải được khắc phục trong sự gắn bó mật thiết với phong cách. Mọi sự non kém, thiếu sót về ngôn ngữ đều sẽ bộc lộ khi sử dụng các phong cách chức năng ngôn ngữ. Ðối với nhà trường, sự phân loại và mô tả các PC sẽ tạo ra những nền tảng khoa học về tiếng Việt để biên soạn những tài liệu học tập, giảng dạy hoàn chỉnh về tiếng Việt. Sự phân loại và mô tả các phong cách có ý nghĩa về nhiều mặt: ý nghĩa xã hội, ý nghĩa lí luận và ý nghĩa sư phạm. 2. Các cách phân loại PCNN Việc phân loại các phong cách chức năng là một vấn đề đã được đặt ra từ thời Mĩ từ pháp cổ xưa với lược đồ bánh xe phong cách của Virgile. Riêng ở Việt Nam vấn đề này chỉ mới thực sự quan tâm từ khi có các giáo trình về phong cách học. Cụ thể là trong quyển Giáo trình Việt ngữ tập III của Ðinh Trọng Lạc xuất bản năm 1964. Từ đó đến nay đã có rất nhiều ý kiến khác nhau về cách phân loại các PCCNTV. Và, thực tiễn vấn đề này vẫn chưa có tiếng nói chung cả về số lượng các phong cách và cả về thuật ngữ Có thể thăm dò hai ý kiến về cách phân loại qua hai bộ giáo trình Phong cách học và dấu hiệu tu từ tiếng Việt của giáo sư Cù Ðình Tú và Phong cách học tiếng Việt của giáo sư Ðinh Trọng Lạc (chủ biên ) và Nguyễn Thái Hoà. 1- GS Cù Ðình Tú phân loại dựa trên sự đối lập giữa PC khẩu ngữ tự Website: http://www.docs.vn Tin nhắn hộp thư online : [email protected] Tel : 0918.775.368 nhiên và PC ngôn ngữ gọt giũa. Sau đó, trên nền tảng chức năng giao tiếp của xã hội mà chia tiếp PC ngôn ngữ gọt giũa thành : PC khoa học, PC chính luận, PC hành chính. PC ngôn ngữ văn chương được thăm dò riêng không nằm trong phong cách ngôn ngữ gọt giũa. Sơ đồ phong cách tiếng Việt được triệu chứng như sau : Tiếng Việt toàn dân Phong cách khẩu ngữ tự nhiên Phong cách ngôn ngữ gọt giũa Phong cách hành chính Phong cách ngôn ngữ văn chương 2- GS Ðinh Trọng Lạc phân loại phong cách chức năng tiếng Việt ra làm 5 loại : PC Hành chính- công vụ, PC khoa học- kỹ thuật, PC báo chí- công luận, PC chính luận và PC sinh hoạt hàng ngày. Theo giáo sư, lời nói văn nghệ không tạo ra phong cách chức năng riêng mà chỉ là một kiểu chức năng của ngôn ngữ. So sánh hai cách phân loại trên tất cả chúng ta thấy: Cách thứ nhất phân loại còn thiếu một phong cách CNNN đang tồn tại thực tiễn hiện tại trong tiếng Việt , đó là PC thông tấn ( Ở đây chúng tôi dùng thuật ngữ thông tấn thay cho thuật ngữ tạp chí ). Cách thứ hai lại không có PC ngôn ngữ văn chương trong hệ thống PCCNNN tiếng Việt . Ðiều này không đảm bảo tính hệ thống của PCCNNN tiếng Việt và tranh chấp về khái niệm phong cách đã được đề cập ở phần phân loại của tác giả. Giáo trình này phân loại các PCCNNN tiếng Việt ra làm 6 loại. Ðó là : PC khẩu ngữ, PC khoa học, PC thông tấn, PC chính luận, PC hành chính và PC văn chương. II- MIÊU TẢ CÁC PCCN NGÔN NGỮ TIẾNG VIỆT 1. Phong cách khẩu ngữ a- Khái niệm: Phong cách KN là phong cách được dùng trong giao tiếp sinh hoạt hàng ngày, thuộc hoàn cảnh giao tiếp không mang tính nghi thức. Giao tiếp ở đây Website: http://www.docs.vn Tin nhắn hộp thư online : [email protected] Tel : 0918.775.368 thường với tư cách cá nhân nhằm để trao đổi tư tưởng, tình cảm của mình với người thân, bạn thân, hàng xóm, đồng nghiệp, gắn bó, . PCKN có các dạng trổ tài như : trò chuyện, nhật kí, thư từ. Trong số đó trò chuyện thuộc hình thức hội thoại, nhật kí thuộc hình thức văn bản tự thoại và thư từ thuộc hình thức văn bản cách thoại. Tuy nhiên, có thể thấy ở phong cách này, dạng nói là dạng giao tiếp đa số. Ở dạng này toàn bộ những nét riêng trong sự trổ tài như: đặc trưng, dấu hiệu ngôn ngữ được bộc lộ rõ và hết sức tiêu biểu. Có điều cần phải Note là không phải dạng nói nào cũng thuộc PCKN. Chỉ có những lời nói ( trò chuyện) trong giao tiếp mang tính không nghi thức mới thuộc PCKN. Ở PC này người ta còn chia làm hai dạng: PCKN văn hoá và PCKN thông tục. Ở mỗi dạng này lại có sự trổ tài riêng cả về đặc trưng cũng như về dấu hiệu ngôn ngữ. Do đó, mỗi PCCNNN không phải là một khuôn mẫu khô cứng. b- Chức năng và đặc trưng: 1- Chức năng : PCKN có các chức năng : trao đổi tư tưởng tình cảm và chức năng tạo tiếp. Những vấn đề mà PCKN đề cập không chỉ là những vấn đề cụ thể, đơn giản trong đời sống tình cảm, sinh hoạt hàng ngày mà còn là những vấn đề trừu tượng, phức tạp như chính trị xã hội, khoa học, văn nghệ, triết học, . 2- Ðặc trưng: PCKN có 3 đặc trưng : 2.1- Tính cá thể: Ðặc trưng này trổ tài ở chỗ khi giao tiếp, người nói bao giờ cũng trổ tài vẻ riêng về thói quen ngôn ngữ của mình khi trao đổi, chuyện trò, tâm sự với người khác. Ngôn ngữ là công cụ chung dùng để giao tiếp trong một cộng đồng nhưng ở mọi người có sự vận dụng và trổ tài không giống nhau do nhiều nguyên nhân như: nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính, tâm lí, tính cách, trình độ học vấn, văn hoá . Ðặc trưng này khiến cho sự trổ tài của phong cách KN cực kì phong phú, phức tạp, phong phú. 2.2- Tính cụ thể: Ở PCKN, những cách nói trừu tượng, chung chung tỏ ra không thích hợp. Ðiều này do giao tiếp ở đây thường là giao tiếp hội thoại, sự tiếp nhận và phản hồi thông tin, tình cảm cần phải tức thời và ngắn gọn. Ðặc Website: http://www.docs.vn Tin nhắn hộp thư online : [email protected] Tel : 0918.775.368 trưng này đã giúp cho sự giao tiếp trong sinh hoaüt hàng ngày trở nên nhanh chóng, dễ dàng, ngay trong trường hợp phải đề cập đến những vấn đề trừu tượng. Ví dụ: Tôi cười nhạt: – Nghe anh nói, tôi nản quá. Như vậy cuộc kháng chiến của ta có thể đến hỏng à? Anh chộp lấy câu của tôi, nhanh như một con mèo vồ con chuột: – Âúy đấy, tôi bi lắm. Cứ xem xét kĩ thì rất nản. Nhưng tôi chưa nản có thể chỉ vì tôi tin vào Ông Cụ. Tôi cho rằng cuộc Cách mạng tháng Tám cũng như cuộc kháng chiến hiện tại chỉ ăn vì người lãnh đạo cừ. Hồ Chí Minh đáng lẽ phải cứu vãn một nước như vậy nào kia, mới xứng tài. Phải cứu một nước như nước mình kể cũng khổ cho Ông Cụ lắm. Anh tính tượng trưng cho phong trào giải phóng cả một cái đệ tứ cường quốc là Ðại Pháp mà cũng chỉ có đến thằng Ðờ Gôn. Tôi nhắc đến tên mấy nhân vật kháng chiến cũ của Pháp, còn đáng tiêu biểu bằng mấy Ðờ Gôn. Anh lắc đầu: – Bằng thế nào được Hồ Chí Minh! Và anh tiếp: – Ông Cụ làm những việc nó cừ quá, đến nỗi tôi cứ cho rằng dù dân mình có tồi đi nữa, Ông Cụ xoay quanh rồi cũng cứ độc lập như thường. Những cú như cú Hiệp định sơ bộ mồng 6 tháng 3 thì đến chính thằng Mĩ cũng phải lắc đầu: nó cho rằng không thể nào bịp Ông Già nổi. Thằng Pháp thì nghĩa lí gì? Bệt lắm rồi. Không có thằng Mĩ xui thì làm gì Pháp dám trở mặt phản Hiệp định mồng 6 tháng 3? Mình cho nó như vậy là đã phúc đời nhà nó rồi. Ðáng lẽ nó phải làm chằng chằng lấy chứ? (Nam Cao) 2.3- Tính xúc cảm: Ðặc trưng này gắn chặt với tính cụ thể. Khi giao tiếp ở phong cách KN người ta luôn luôn bộc lộ thái độ tư tưởng, tình cảm của mình so với đối tượng được nói đến. Những cách diễn tả đầy màu sắc tình cảm đã nảy sinh trực tiếp từ những tình huống cụ thể trong thực tiễn đời sống muôn màu muôn vẻ. Chính thái độ, tình cảm, xúc cảm làm thành nội dung triệu chứng bổ sung của lời nói, giúp người nghe có thể hiểu nhanh chóng, hiểu sâu sắc nội Website: http://www.docs.vn Tin nhắn hộp thư online : [email protected] Tel : 0918.775.368 dung cơ bản và nhất là mục đích, ý nghĩa của lời nói. Ví dụ: Anh Mịch nhăn nhó nói: – Lạy ông, ông làm phúc tha cho con, mai con phải đi làm trừ nợ cho ông Nghị, kẻo ông ấy đánh chết. Ông Lí cau mặt, lắc đầu, giơ roi song to bằng ngón chân cái lên trời, dậm dọa: – Kệ mày, theo lệnh quan, tao chiếu sổ đinh, thì lần này đến lượt mày rồi. – Cắn cỏ con lạy ông trăm nghìn mớ lạy, ông mà bắt con đi, thì ông Nghị ghét con, cả nhà con khổ. – Thì mày hẹn làm ngày khác với ông ấy, không được à? – Ðối với ông Nghị, con là chỗ đầy tớ, con sợ lắm. Con không dám nói sai lời, vì là chỗ con nhờ vả quanh năm. Nếu không, vợ con con chết đói. – Chết đói hay chết no, tao đây không biết, nhưng giấy quan đã sức, tao cứ phép tao làm. Ðứa nào không tuân, để quan gắt, tao trình thì rũ tù. ( Nguyễn Công Hoan) c- Ðặc điểm ngôn ngữ: 1- Ngữ âm : Khi nói năng ở PC này người ta không có ý thức hướng tới chuẩn mực ngữ âm mà nói năng thoải mái, không những trong phát âm mà cả trong điệu bộ cử chỉ. Chính vì dấu hiệu này mà tất cả chúng ta thấy PCKN là PC tồn tại rất nhiều những biến thể ngữ âm. Ngữ điệu trong PCKN mang dấu ấn riêng của cá nhân, có tính chất tự nhiên , tự phát. Trong một số trường hợp, ngữ điệu là nội dung thông báo chính chứ không phải là lời nói. 2- Từ ngữ: – Ðặc điểm nổi trội nhất của PC này là thường dùng những từ mang tính cụ thể, giàu hình ảnh và sắc thái biểu cảm. – Khi gọi tên hàng ngày, người ta không thích dùng tên khai sinh vì cách gọi này thường kém cụ thể, ít gợi cảm. Người ta tìm những cách đặt tên khác có khả năng gợi ra hình ảnh, dấu hiệu cụ thể tách biệt thường có ở một cá nhân. Website: http://www.docs.vn Tin nhắn hộp thư online : [email protected] Tel : 0918.775.368 – Những từ biểu thị các nhu cầu vật chất và trí não thông thường ( như ăn, ở, đi lại, học hành, thể dục thể thao, trị bệnh, mua bán, giao thiệp, vui chơi, tiêu khiển, sinh hoạt trong gia đình, trong làng xóm .) chiếm tỉ lệ lớn, có tần suất cao. * Một số hiện tượng nổi trội: + Có một lớp từ chuyên dùng cho PCKN mà ít dùng ở các PC khác. Ví dụ: Hết xảy, hết ý, số dách, bỏ bố, bỏ mẹ, cút, chuồn . Những tiếng tục, tiếng lóng cũng chỉ dùng ở PC này. + Sử dụng nhiều từ láy và nhất là láy tư. Ví dụ như: đỏng đa đỏng đảnh, nhí nha nhí nhảnh, tầm bậy tầm bạ, lí la lí lắt . Có khi sử dụng kiểu láy chen như: -Làm ăn như tao thật là đáng chết, khách đến thì ít mà khứa đến thì nhiều. + Hay dùng cách nói tắt. Ví dụ : Nhân khẩu ( khẩu; chán nản ( nản; bi quanàbi. + Sử dụng những phối hợp không có quy tắc. Ví dụ: Ðẹp ( đẹp mê hồn, đẹp mê li rụng rốn, đẹp tàn canh giá lạnh, đẹp ve kêu, đẹp bá chấy . + Thường dùng những từ tượng thanh, tượng hình. + Thường dùng cách nói ví von, so sánh, chuyển nghĩa ẩn dụ hoặc hoán dụ. 3- Cú pháp: – Trong tổng số những cấu trúc cú pháp được sử dụng ở PC này, câu đơn chiếm tỉ lệ lớn và có tần suất cao. Ðặc biệt, câu gọi tên ( như: câu cảm thán, câu chào hỏi, ứng xử .) được sử dụng nhiều. – Ðặc điểm nổi trội ở PC này là tồn tại hai xu hướng trái ngược nhau. Một mặt, khẩu ngữ dùng kết cấu tỉnh lược, có khi tỉnh lược đến mức tối đa nói bằng sự để trống hoàn toàn, mặt khác, dùng các kết cấu cú pháp có xen những yếu tố dư, lặp lại, có khi dư thừa một cách dài dòng lủng củng. Ðây là một ví dụ về cách nói có xen nhiều yếu tố dư: Bác Phô gái, dịu dàng, đặt cành cau lên bàn, ngồi xổm ở xó cửa, gãi tai, nói với ông Lí: Website: http://www.docs.vn Tin nhắn hộp thư online : [email protected] Tel : 0918.775.368 – Lạy thầy, nhà con thì chưa cất cơn, mấy lại sợ thầy mắng chửi, nên khơng dám đến kêu. Lạy thầy, quyền phép trong tay thầy, thầy tha cho nhà con, đừng bắt nhà con đi xem đá bóng vội. – Ồ, việc quan khơng phải như chuyện đàn bà của các chị! – Thì lạy thầy, thế này, làng ta thì đơng, thầy cắt ai khơng được. Tận nhà con ốm yếu, nên xin thầy hỗn cho đến lượt sau. – Ốm gần chết cũng phải đi. Lệnh quan như vậy. Ai cũng lấy cớ ốm yếu mà khơng đi, thì người ta đá bóng cho chó nó xem à? ( Nguyễn Cơng Hoan) d- Miêu tả: Do được dùng trong sinh hoạt hàng ngày nên PCKN có tính tự do, tuỳ tiện và phụ thuộc rất nhiều vào tâm lí, cảm xúc của người trong cuộc. Ðiều này dẫn theo tình trạng đề tài, đối tượng được đề cập trong PCKN ít khi tập trung, đứt đoạn, ý nọ xọ ý kia, thiếu tính liên tục. Ví dụ: Hồng:- Lần thi này mày có dùng phao khơng? Minh:- Khơng. Giám thị coi ngặt q. Có thể thi lại. Thành:- Vậy mà vẫn có đứa phao được đấy. Nó giả vờ đau bụng ra ngồi. Hồng:- Cứ phải học chắc thì vẫn hơn. À, chiều nay ta đi bách hố cái nhỉ. Thành:- Làm gì? Hồng:- Mua miếng vải may quần. Minh:- Mua vải làm gì? Mua quần may sẵn có hơn khơng? Chiều vào Hà Ðơng đi. Chấn:- Hà Ðơng dạo này đang làm lại cái cầu to lắm. Thành:- Thị xã này hiện giờ rất đẹp. Hai bờ sơng đã kè đá cả rồi. Như sơng Nhêva ấy. Minh:- Mày đi Nga rồi à? Thành:- Khơng. Nghe người ta nói thế. Hồng:- Tao đã uống cà phê ở qn Hương Giang một lần. Cạnh bờ sơng, mát lắm. Minh:- Chẳng bằng qn Anh Chi ở Hồ Tây. Chấn:- Mai lớp mình có phụ đạo triết học khơng? Hồng:- Hình như vào buổi chiều. Triết học loằng ngoằng q, 76 thắc mắc. Website: http://www.docs.vn Tin nhắn hộp thư online : [email protected] Tel : 0918.775.368 Thành:- Giáo viên không hạn chế thì toi . [4, 90, 91] 2. Phong cách khoa học a- Khái niệm: PC khoa học là PC được dùng trong ngành nghề tìm hiểu, học tập và phổ biến khoa học. Ðây là PC ngôn ngữ đặc trưng cho các mục đích diễn tả chuyên môn sâu. Khác với PCKN, PC này chỉ tồn tại đa số ở môi trường của những người làm khoa học ( ngoại trừ dạng phổ cập khoa học). PC khoa học có ba biến thể: PC khoa học nâng cao, PC khoa học giáo khoa và PC khoa học phổ cập. Khác với PC khẩu ngữ, ở PC này dạng viết là tiêu biểu. b- Chức năng và đặc trưng: 1- Chức năng: PC khoa học có hai chức năng là: thông báo và chứng minh. Một vài giáo trình trước đó cho rằng PCKH có chức năng đa số là thông báo [14],[15]. Tư tưởng trên tỏ ra không bao quát hết bản chất của PC này. Chính chức năng minh chứng tạo thành sự khu biệt giữa PCKH với các PC khác. Văn bản thuộc PC này không chỉ thuần thông báo các sự kiện, sự vật tồn tại trong thực tiễn khách quan mà còn phải minh chứng, làm sáng tỏ ý nghĩa của các sự kiện ấy. 2- Ðặc trưng: PC khoa học có 3 đặc trưng : 2.1- Tính trừu tượng- tổng quan: Mục đích của khoa học là phát xuất hiện các quy luật tồn tại trong các sự vật, hiện tượng nên phải thông qua trừu tượng hoá, tổng quan hoá khi nhận thức và phản ánh hiện thực khách quan. Trừu tượng hoá chính là con đường của nhận thức lí tính giúp ta thoát khỏi những nhận thấy lẻ tẻ, rời rạc ở giai đoạn cảm tính. Ví dụ , để có khái niệm PCCNNN, người ta đã phải trừu tượng hoá toàn bộ các văn bản, các dạng lời nói trong quá trình hoạt động ngôn giao. 2.2- Tính logic: Cách diễn tả của PC khoa học phải triệu chứng năng lực tổng hợp của trí tuệ, phải tuân theo quy tắc chặt chẽ từ tư duy logic hình thức đến tư duy logic biện chứng. Các nội dung ý tưởng khoa học của người viết phải được sắp xếp trong mối quan hệ logic, tránh trùng lặp hoặc tranh chấp; những Website: http://www.docs.vn Tin nhắn hộp thư online : [email protected] Tel : 0918.775.368 tổng quan, suy lí khoa học không được phủ định lại những tài liệu (cứ liệu) làm nền tảng cho nó . 2.3- Tính chính xác- khách quan: PC khoa học không được phép tạo ra sự khác biệt giữa cái diễn đạt và cái được diễn đạt. Một văn bản khoa học chỉ có giá trị thực sự khi mang đến người tiếp nhận những thông tin chuẩn xác về các phát hiện, phát minh khoa học. Muốn vậy, văn bản khoa học phải đảm bảo tính một nghĩa. Nghĩa là nó không cho phép nhiều cách hiểu khác nhau hoặc hiểu một cách mơ hồ. Chân lí khoa học luôn phụ thuộc vào các quy luật khách quan, không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người. Những từ ngữ biểu cảm, những ý kiến chủ quan không thích hợp ở PC này. c- Ðặc điểm : 1- Ngữ âm: Khi phát âm ở PC này người ta thường có ý thức hướng tới chuẩn mực ngữ âm. Ngữ điệu có thể được dùng hạn chế để tăng thêm sức thuyết phục của sự lập luận 2- Từ ngữ: – Sử dụng nhiều và sử dụng chuẩn xác thuật ngữ khoa học. – Những từ ngữ trừu tượng, trung hòa về sắc thái biểu cảm xuất hiện với tần số cao và thích hợp với sự diễn tả của PC này. Ví dụ: Cái mô hình ngữ pháp mô tả mà N. Chomsky thừa nhận là có tính khách quan và chặt chẽ nhất là mô hình ICs ( với lối phân tích lưỡng phân liên tục, từ S ( tức Sentence đến NP, VP ( tức noun phrase, verb phrase) rồi đến những thành tố trực tiếp khác trong lòng chúng cho đến hình vị cuối cùng), nhưng vận dụng nó vào việc tạo sinh câu thì vẫn có thể tạo ra những câu kỳ quặc kiểu như The colorless green ideas sleep furiously (Những tư tưởng không màu màu xanh lục ngủ một cách giận dữ)! Với sự sáng lập ngữ pháp tạo sinh, N.Chomsky là người trước hết đi vào tìm hiểu ngữ pháp của hoạt động tạo ra lời. Ðây là cống hiến trọng yếu của N. Chomsky mà lịch sử ngôn ngữ học sẽ trân trọng ghi khắc, một cống hiến có giá trị tạo ra một giai đoạn phát triển mới trong tiến trình ngôn ngữ học toàn cầu. [ 11,29] Website: http://www.docs.vn Tin nhắn hộp thư online : [email protected] Tel : 0918.775.368 – Các đại từ ngôi thứ ba ( người ta) và đại từ ngôi thứ nhất ( ta, tất cả chúng ta, chúng tôi ) với ý nghĩa tổng quan được dùng nhiều. Ví dụ: Và như vậy, ta lại trở về với một cách hiểu xuất phát của từ phong cách mà không chỉ là ngôn ngữ hay hoạt động ngôn ngữ văn nghệ hay phi nghệ thuật v.v . đó là: những đặc trưng hoạt động bằng lời nói được lặp đi lặp lại ở một người nào đó, ở một môi trường ngôn ngữ hay một cộng đồng có khả năng khu biệt với những kiểu diễn đạt ngôn ngữ khác; nói cách khác nó là tổng số của những dấu hiệu khu biệt của các sự kiện lời nói trong giao tiếp, phản ánh một cấu trúc bên trong và một phương thức hoạt động ngôn ngữ. [5, 130] 3- Cú pháp: – PC khoa học sử dụng các hình thức câu hoàn chỉnh, kết cấu câu chặt chẽ, rõ ràng để đảm bảo yêu cầu chuẩn xác, một nghĩa và tránh cách hiểu nước đôi nước ba. – Các phát ngôn hàm chứa nhiều lập luận khoa học, trổ tài chất lượng tư duy logic cao. – Câu điều kiện-hệ quả và câu ghép được sử dụng nhiều. Nội dung của các phát ngôn đều minh xác. Sự liên hệ giữa các vế trong câu và giữa các phát ngôn với nhau trổ tài những luận cứ khoa học chặt chẽ. Vì vậy, độ dư thừa trong các phát ngôn nói chung là ít, mà cũng có thể nói là ít nhất, so với các phát ngôn khác. – Văn phong khách hàng thường sử dụng những cấu trúc câu khuyết chủ ngữ, hoặc câu có chủ ngữ không xác nhận. 3. Phong cách thông tấn a. Khái niệm: PC thông tấn là PC được dùng trong ngành nghề thông tin của xã hội về tất cả những vấn đề thời sự .( Thông tấn : có nghĩa là thu thập và chỉnh sửa tin tức để phân phối cho các nơi.) Tạp chí, nhất là báo hàng ngày, là nơi đăng tải các loại tin tức, tri thức có tính tổng hợp và update hoá, trong đó hầu như hiện diện đủ toàn bộ các loại phong cách như : khoa học, hành chính, chính luận, văn chương. Do đó, không […]… hội có tầm tổng quan nhất định Chính vì thế ngôn ngữ văn chương dễ đi vào lòng người, nó trở thành ngôn ngữ của muôn người Tính hình tượng trong phong cách văn chương trổ tài ở chỗ ngôn ngữ ở đây có khả năng truyền đạt sự vận động, động tác nội tại của toàn bộ toàn cầu, cảnh vật, con người vào trong tác phẩm Ngôn ngữ trong phong cách khẩu ngữ cũng có khả năng này nhưng nó không là điều bắt buộc Trong… phong cách thông tấn là phong cách tạp chí PC thông tấn có các loại: văn bản phân phối tin tức, văn bản phản ánh công luận và văn bản thông tin- quảng cáo Phong cách thông tấn tồn tại cả ba dạng: dạng nói (kênh nói được dùng ở các đài phát thanh); dạng hình và nói (kênh nói và hình được dùng ở đài truyền hình); dạng viết ( kênh viết được dùng trên báo và tạp chí ) b- Chức năng và đặc trưng 1- Chức năng: … những yếu tố ngữ âm như: âm, thanh, ngữ điệu, tiết tấu, âm điệu rất trọng yếu Có thể nói, toàn bộ những tiềm năng của ngữ âm Website: http://www.docs.vn Tin nhắn hộp thư online : [email protected] Tel : 0918.775.368 tiếng Việt đều được vận dụng một cách nghệ thuâtû để thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ về mặt ngữ âm của người đọc, người nghe Hầu như mọi biến thể của ngữ âm tiếng Việt đều được khai thác 2- Từ ngữ: Từ ngữ trong PCVC… trình bày trong một câu 6 Phong cách văn chương a- Khái niệm: PC văn chương ( còn gọi là PC văn nghệ) là PC được dùng trong sáng tác văn chương PC này là dạng tồn tại vẹn toàn và sáng chói nhất của ngôn ngữ toàn dân PC văn chương không có hạn chế về đối tượng giao tiếp, không gian và thời gian giao tiếp b- Chức năng và đặc trưng: 1- ngôn ngữ văn chương có ba chức năng: thông báo, thúc đẩy,… những hiện tượng ngôn ngữ Như vậy, ở các vùng núi cao, hoặc ở các vùng quê xa xôi, hẻo lánh thì còn lưu lại những dấu vết của tiếng Việt thượng cổ Vì thế, khi tìm hiểu các phương ngữ, tất cả chúng ta có thể khôi phục lại, tìm thấy được dấu vết phát triển của tiếng Việt, nêu ra được những biến thể và những bất biến trong lịch sử tiếng Việt, và do đó nêu ra được những dấu hiệu của tiếng Việt Nhiều sự vật, được… cảnh nào và vì mục đích gì Giao tiếp ở phong cách này, người phát ngôn có vai trò quyết định: Miệng nhà quan có gang, có thép; Vai mang túi bạc kè kè Nói ấm nói ớ, người nghe ầm ầm Trong khi đó, ở phong cách văn chương, địa vị cao thấp, sang hèn của nhà văn nhà thơ không đóng vai trò quyết định nhiều Tính hình tượng của ngôn ngữ văn chương bắt nguồn từ chỗ đó là ngôn ngữ của một chủ thể tư tưởng thẩm mĩ… này với PC khoa học, PC thông tấn vẫn còn một số tư tưởng chưa thống nhất [4], [8],[14], [15] b- Chức năng và đặc trưng : 1- Chức năng : PC chính luận có ba chức năng: thông báo, thúc đẩy và minh chứng Chính vì thực hiện ngôn ngữ có nét giống với PC thông tấn, PC khoa học và cả PC văn chương Website: http://www.docs.vn… phát triển (Báo Nhân dân) 5 Phong cách hành chính a- Khái niệm : PC hành chính là PC đuợc dùng trong giao tiếp thuộc ngành nghề hành chính Ðấy là giao tiếp giữa Nhà nước với nhân dân, giữa nhân dân với đơn vị Nhà nước, giữa đơn vị với đơn vị, giữa nước này và nước khác b- Chức năng và đặc trưng: 1- Chức năng: PC hành chính có hai chức năng: thông báo và sai khiến Chức năng thông báo trổ tài rõ ở… các đài phát thanh và truyền hình của địa phương hoặc khu vực, có thể sử dụng một cách có chừng mực một số biến thể phát âm thuộc một phương ngôn nào đó, nơi mà đài phủ sóng 2- Từ ngữ: 2.1- Tạp chí là phương tiện thông tin đại chúng Do vậy, từ ngữ được dùng trong phong cách thông tấn trước hết phải là từ ngữ toàn dân, có tính thông dụng cao Tuy nhiên, ở mỗi thể loại có sự trổ tài khác nhau: – Từ ngữ. .. trước hết vì bảo tàng này giới thiệu một cách đồng đẳng 54 nền văn hoá của 54 dân tộc ở Việt Nam Ðó là điều không phải ở đâu cũng làm được Chủ thể của những nền văn hoá này được tôn trọng trong các cách giới thiệu từng thành tố văn hoá Bảo tàng đã phản ánh một cách chân thực lịch sử, đời sống văn hoá và cuộc sống của các dân tộc ( Báo Tuổi trẻ CN ) 2.2- Từ ngữ dùng thường có màu sắc biểu cảm- cảm . Sơ đồ phong thái tiếng Việt được triệu chứng như sau : Tiếng Việt toàn dân Phong thái khẩu ngữ tự nhiên Phong thái ngôn ngữ gọt giũa Phong thái . Phong thái chính luận Phong thái hành chính Phong thái ngôn ngữ văn chương 2- GS Ðinh Trọng Lạc phân loại phong miễn nhiệm năng tiếng Việt

Xem Thêm :   Chiêm ngưỡng những bài thơ về nụ cười thả thính ấn tượng nhất hiện nay

Xem Thêm :  Tra cứu đơn hàng bằng số điện thoại người nhận

Ðứng về mặt ngôn ngữ học thì việc phân loại và mô tả các phong miễn nhiệm năng ngôn ngữ tiếng Việt là yêu cầu lí thuyết đặt ra cho bất kì ngôn ngữ nào đã và đang ở thời kì phát triển Website: http://www.docs.vn Tin nhắn hộp thư online : [email protected] Tel : 0918.775.368I. VẤN ĐỀ PHÂN LOẠI 1. Ý nghĩa Ðứng về mặthọc thì việc phân loại và mô tả phong cách chức năng ngônlà yêu cầu lí thuyết đặt ra cho bất kìnào đã và đang ở thời kì phát triển. Trong giao tiếp, phong cách chức năng ngôn ngữ luôn giữ vai trò môi giới. Toàn bộ những nétphú và sâu sắc, thâm thuý và tinh tế, toàn bộ những khảbiến hoá củađều trổ tài trongvà quacách. Toàn bộ những vấn đề trọng yếu như Giữ gìn sự trong sáng củaViệt, Chuẩn hoángữ, phát triển vàcaovăn hoá . đều phải được khắc phục trong sự gắn bó mật thiết vớicách. Mọi sự non kém, thiếu sót vềđều sẽ bộc lộ khi sử dụngngữ. Ðối với nhà trường, sự phân loại và miêu tảPC sẽ tạo ra những nền tảng khoa học vềđể biên soạn những tài liệu học tập, giảng dạy hoàn chỉnh vềViệt. Sự phân loại và miêu tảcó ý nghĩa về nhiều mặt: ý nghĩa xã hội, ý nghĩa lí luận và ý nghĩa sư phạm. 2.phân loại PCNN Việc phân loạilà một vấn đề đã được đặt ra từ thời Mĩ từ pháp cổ xưa với lược đồ bánh xecủa Virgile. Riêng ởNam vấn đề này chỉ mới thực sự quan tâm từ khi cógiáo trình vềhọc. Cụ thể là trong quyển Giáo trìnhtập III của Ðinh Trọng Lạc xuất bản năm 1964. Từ đó đến nay đã có rất nhiều ý kiến khác nhau vềphân loạiPCCNTV. Và, thực tiễn vấn đề này vẫn chưa cónói chung cả về số lượngvà cả về thuậtCó thể thăm dò hai ý kiến vềphân loại qua hai bộ giáo trìnhhọc và dấu hiệu tu từcủa giáo sư Cù Ðình Tú vàhọccủa giáo sư Ðinh Trọng Lạc (chủ biên ) và Nguyễn Thái Hoà. 1- GS Cù Ðình Tú phân loại dựa trên sự đối lập giữa PC khẩutự Website: http://www.docs.vn Tin nhắn hộp thư online : [email protected] Tel : 0918.775.368 nhiên và PCgọt giũa. Sau đó, trên cơ sởgiao tiếp của xã hội mà chia tiếp PCgọt giũa thành : PC khoa học, PC chính luận, PC hành chính. PCvăn chương được thăm dò riêng không nằm tronggọt giũa. Sơ đồđược triệu chứng như sau :toàn dânkhẩutự nhiêngọt giũa Phong cách khoa học Phong cách chính luậnhành chínhvăn chương 2- GS Ðinh Trọng Lạc phân loạira làm 5 loại : PC Hành chính- công vụ, PC khoa học- kỹ thuật, PC báo chí- công luận, PC chính luận và PC sinh hoạt hàng ngày. Theo giáo sư, lời nói văn nghệ không tạo rariêng mà chỉ là một kiểucủangữ. So sánh haiphân loại trên tất cả chúng ta thấy:thứ nhất phân loại còn thiếu mộtCNNN đang tồn tại thực tiễn hiện tại trong, đó là PC thông tấn ( Ở đây chúng tôi dùng thuậtthông tấn thay cho thuậtbáo chí ).thứ hai lại không có PCvăn chương trong hệ thống PCCNNN. Ðiều này không đảm bảo tính hệ thống của PCCNNNvà tranh chấp về khái niệmđã được đề cập ở phần phân loại của tác giả. Giáo trình này phân loạiPCCNNNra làm 6 loại. Ðó là : PC khẩu ngữ, PC khoa học, PC thông tấn, PC chính luận, PC hành chính và PC văn chương. II- MIÊU TẢPCCN1.khẩua- Khái niệm:KN làđược dùng trong giao tiếp sinh hoạt hàng ngày, thuộc hoàn cảnh giao tiếp không mang tính nghi thức. Giao tiếp ở đây Website: http://www.docs.vn Tin nhắn hộp thư online : [email protected] Tel : 0918.775.368 thường với tưcá nhân nhằm để trao đổi tư tưởng, tình cảm của mình với người thân, bạn thân, hàng xóm, đồng nghiệp, gắn bó, . PCKN códạng trổ tài như : trò chuyện, nhật kí, thư từ. Trong số đó trò chuyện thuộc hình thức hội thoại, nhật kí thuộc hình thức văn bản tự thoại và thư từ thuộc hình thức văn bảnthoại. Tuy nhiên, có thể thấy ởnày, dạng nói là dạng giao tiếp đa số. Ở dạng này toàn bộ những nét riêng trong sự trổ tài như: đặc trưng, đặc điểmđược bộc lộ rõ và hết sức tiêu biểu. Có điều cần phải Note là không phải dạng nói nào cũng thuộc PCKN. Chỉ có những lời nói ( trò chuyện) trong giao tiếp mang tính không nghi thức mới thuộc PCKN. Ở PC này người ta còn chia làm hai dạng: PCKN văn hoá và PCKN thông tục. Ở mỗi dạng này lại có sự trổ tài riêng cả về đặc trưng cũng như về đặc điểmngữ. Do đó, mỗi PCCNNN không phải là một khuôn mẫu khô cứng. b-và đặc trưng: 1-: PCKN có: trao đổi tư tưởng tình cảm vàtạo tiếp. Những vấn đề mà PCKN đề cập không chỉ là những vấn đề cụ thể, đơn giản trong đời sống tình cảm, sinh hoạt hàng ngày mà còn là những vấn đề trừu tượng, phức tạp như chính trị xã hội, khoa học, văn nghệ, triết học, . 2- Ðặc trưng: PCKN có 3 đặc trưng : 2.1- Tính cá thể: Ðặc trưng này trổ tài ở chỗ khi giao tiếp, người nói lúc nào cũng trổ tài vẻ riêng về thói quencủa mình khi trao đổi, trò chuyện, tâm sự với người khác.là công cụ chung dùng để giao tiếp trong một cộng đồng nhưng ở mọi người có sự vận dụng và trổ tài không giống nhau do nhiều nguyên nhân như: nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính, tâm lí, tính cách, trình độ học vấn, văn hoá . Ðặc trưng này khiến cho sự trổ tài củaKN cực kìphú, phức tạp, phong phú. 2.2- Tính cụ thể: Ở PCKN, nhữngnói trừu tượng, chung chung tỏ ra không thích hợp. Ðiều này do giao tiếp ở đây thường là giao tiếp hội thoại, sự tiếp nhận và phản hồi thông tin, tình cảm cần phải tức thời và ngắn gọn. Ðặc Website: http://www.docs.vn Tin nhắn hộp thư online : [email protected] Tel : 0918.775.368 trưng này đã giúp cho sự giao tiếp trong sinh hoaüt hàng ngày trở nên nhanh chóng, dễ dàng, ngay trong trường hợp phải đề cập đến những vấn đề trừu tượng. Ví dụ: Tôi cười nhạt: – Nghe anh nói, tôi nản quá. Như vậy cuộc kháng chiến của ta có thể đến hỏng à? Anh chộp lấy câu của tôi, nhanh như một con mèo vồ con chuột: – Âúy đấy, tôi bi lắm. Cứ xem xét kĩ thì rất nản. Nhưng tôi chưa nản có thể chỉ vì tôi tin vào Ông Cụ. Tôi cho rằng cuộcmạng tháng Tám cũng như cuộc kháng chiến hiện tại chỉ ăn vì người lãnh đạo cừ. Hồ Chí Minh đáng lẽ phải cứu vãn một nước như vậy nào kia, mới xứng tài. Phải cứu một nước như nước mình kể cũng khổ cho Ông Cụ lắm. Anh tính tượng trưng chotrào giảicả một cái đệ tứ cường quốc là Ðại Pháp mà cũng chỉ có đến thằng Ðờ Gôn. Tôi nhắc đến tên mấy nhân vật kháng chiến cũ của Pháp, còn đáng tiêu biểu bằng mấy Ðờ Gôn. Anh lắc đầu: – Bằng thế nào được Hồ Chí Minh! Và anh tiếp: – Ông Cụ làm những việc nó cừ quá, đến nỗi tôi cứ cho rằng dù dân mình có tồi đi nữa, Ông Cụ xoay quanh rồi cũng cứ độc lập như thường. Những cú như cú Hiệp định sơ bộ mồng 6 tháng 3 thì đến chính thằng Mĩ cũng phải lắc đầu: nó cho rằng không thể nào bịp Ông Già nổi. Thằng Pháp thì nghĩa lí gì? Bệt lắm rồi. Không có thằng Mĩ xui thì làm gì Pháp dám trở mặt phản Hiệp định mồng 6 tháng 3? Mình cho nó như vậy là đã phúc đời nhà nó rồi. Ðáng lẽ nó phải làm chằng chằng lấy chứ? (Nam Cao) 2.3- Tính xúc cảm: Ðặc trưng này gắn chặt với tính cụ thể. Khi giao tiếp ởKN người ta luôn luôn bộc lộ thái độ tư tưởng, tình cảm của mình so với đối tượng được nói đến. Nhữngdiễn đạt đầy màu sắc tình cảm đã nảy sinh trực tiếp từ những tình huống cụ thể trong thực tiễn đời sống muôn màu muôn vẻ. Chính thái độ, tình cảm, xúc cảm làm thành nội dung triệu chứng bổ sung của lời nói, giúp người nghe có thể hiểu nhanh chóng, hiểu sâu sắc nội Website: http://www.docs.vn Tin nhắn hộp thư online : [email protected] Tel : 0918.775.368 dung cơ bản và nhất là mục đích, ý nghĩa của lời nói. Ví dụ: Anh Mịch nhăn nhó nói: – Lạy ông, ông làm phúc tha cho con, mai con phải đi làm trừ nợ cho ông Nghị, kẻo ông ấy đánh chết. Ông Lí cau mặt, lắc đầu, giơ roi song to bằngchân cái lên trời, dậm dọa: – Kệ mày, theo lệnh quan, tao chiếu sổ đinh, thì lần này đến lượt mày rồi. – Cắn cỏ con lạy ông trăm nghìn mớ lạy, ông mà bắt con đi, thì ông Nghị ghét con, cả nhà con khổ. – Thì mày hẹn làm ngày khác với ông ấy, không được à? – Ðối với ông Nghị, con là chỗ đầy tớ, con sợ lắm. Con không dám nói sai lời, vì là chỗ con nhờ vả quanh năm. Nếu không, vợ con con chết đói. – Chết đói hay chết no, tao đây không biết, nhưng giấy quan đã sức, tao cứ phép tao làm. Ðứa nào không tuân, để quan gắt, tao trình thì rũ tù. ( Nguyễn Công Hoan) c- Ðặc điểmngữ: 1-âm : Khi nóiở PC này người ta không có ý thức hướng tới chuẩn mựcâm mà nóithoải mái, không những trong phát âm mà cả trong điệu bộ cử chỉ. Chính vì dấu hiệu này mà tất cả chúng ta thấy PCKN là PC tồn tại rất nhiều những biến thểâm.điệu trong PCKN mang dấu ấn riêng của cá nhân, có tính chất tự nhiên , tự phát. Trong một số trường hợp,điệu là nội dung thông báo chính chứ không phải là lời nói. 2- Từ ngữ: – Ðặc điểm nổi trội nhất của PC này là thường dùng những từ mang tính cụ thể, giàu hình ảnh và sắc thái biểu cảm. – Khi gọi tên hàng ngày, người ta không thích dùng tên khai sinh vìgọi này thường kém cụ thể, ít gợi cảm. Người ta tìm nhữngđặt tên khác có khảgợi ra hình ảnh, dấu hiệu cụ thể tách biệt thường có ở một cá nhân. Website: http://www.docs.vn Tin nhắn hộp thư online : [email protected] Tel : 0918.775.368 – Những từ biểu thịnhu cầu vật chất và trí não thông thường ( như ăn, ở, đi lại, học hành, thể dục thể thao, trị bệnh, mua bán, giao thiệp, vui chơi, tiêu khiển, sinh hoạt trong gia đình, trong làng xóm .) chiếm tỉ lệ lớn, có tần suất cao. * Một số hiện tượng nổi trội: + Có một lớp từ chuyên dùng cho PCKN mà ít dùng ởPC khác. Ví dụ: Hết xảy, hết ý, số dách, bỏ bố, bỏ mẹ, cút, chuồn . Nhữngtục,lóng cũng chỉ dùng ở PC này. + Sử dụng nhiều từ láy và nhất là láy tư. Ví dụ như: đỏng đa đỏng đảnh, nhí nha nhí nhảnh, tầm bậy tầm bạ, lí la lí lắt . Có khi sử dụng kiểu láy chen như: -Làm ăn như tao thật là đáng chết, khách đến thì ít mà khứa đến thì nhiều. + Hay dùngnói tắt. Ví dụ : Nhân khẩu ( khẩu; chán nản ( nản; bi quanàbi. + Sử dụng những phối hợp không có quy tắc. Ví dụ: Ðẹp ( đẹp mê hồn, đẹp mê li rụng rốn, đẹp tàn canh giá lạnh, đẹp ve kêu, đẹp bá chấy . + Thường dùng những từ tượng thanh, tượng hình. + Thường dùngnói ví von, so sánh, chuyển nghĩa ẩn dụ hoặc hoán dụ. 3- Cú pháp: – Trong tổng số những cấu trúc cú pháp được sử dụng ở PC này, câu đơn chiếm tỉ lệ lớn và có tần suất cao. Ðặc biệt, câu gọi tên ( như: câu cảm thán, câu chào hỏi, ứng xử .) được sử dụng nhiều. – Ðặc điểm nổi trội ở PC này là tồn tại hai xu hướng trái ngược nhau. Một mặt, khẩudùng kết cấu tỉnh lược, có khi tỉnh lược đến mức tối đa nói bằng sự để trống hoàn toàn, mặt khác, dùngkết cấu cú pháp có xen những yếu tố dư, lặp lại, có khi dư thừa mộtdài dòng lủng củng. Ðây là một ví dụ vềnói có xen nhiều yếu tố dư: Bác Phô gái, dịu dàng, đặt cành cau lên bàn, ngồi xổm ở xó cửa, gãi tai, nói với ông Lí: Website: http://www.docs.vn Tin nhắn hộp thư online : [email protected] Tel : 0918.775.368 – Lạy thầy, nhà con thì chưa cất cơn, mấy lại sợ thầy mắng chửi, nên khơng dám đến kêu. Lạy thầy, quyền phép trong tay thầy, thầy tha cho nhà con, đừng bắt nhà con đi xem đá bóng vội. – Ồ, việc quan khơng phải như chuyện đàn bà củachị! – Thì lạy thầy, thế này, làng ta thì đơng, thầy cắt ai khơng được. Tận nhà con ốm yếu, nên xin thầy hỗn cho đến lượt sau. – Ốm gần chết cũng phải đi. Lệnh quan như vậy. Ai cũng lấy cớ ốm yếu mà khơng đi, thì người ta đá bóng cho chó nó xem à? ( Nguyễn Cơng Hoan) d- Miêu tả: Do được dùng trong sinh hoạt hàng ngày nên PCKN có tính tự do, tuỳ tiện và phụ thuộc rất nhiều vào tâm lí, cảm xúc của người trong cuộc. Ðiều này dẫn theo tình trạng đề tài, đối tượng được đề cập trong PCKN ít khi tập trung, đứt đoạn, ý nọ xọ ý kia, thiếu tính liên tục. Ví dụ: Hồng:- Lần thi này mày có dùng phao khơng? Minh:- Khơng. Giám thị coi ngặt q. Có thể thi lại. Thành:- Vậy mà vẫn có đứa phao được đấy. Nó giả vờ đau bụng ra ngồi. Hồng:- Cứ phải học chắc thì vẫn hơn. À, chiều nay ta đi bách hố cái nhỉ. Thành:- Làm gì? Hồng:- Mua miếng vải may quần. Minh:- Mua vải làm gì? Mua quần may sẵn có hơn khơng? Chiều vào Hà Ðơng đi. Chấn:- Hà Ðơng dạo này đang làm lại cái cầu to lắm. Thành:- Thị xã này hiện giờ rất đẹp. Hai bờ sơng đã kè đá cả rồi. Như sơng Nhêva ấy. Minh:- Mày đi Nga rồi à? Thành:- Khơng. Nghe người ta nói thế. Hồng:- Tao đã uống cà phê ở qn Hương Giang một lần. Cạnh bờ sơng, mát lắm. Minh:- Chẳng bằng qn Anh Chi ở Hồ Tây. Chấn:- Mai lớp mình có phụ đạo triết học khơng? Hồng:- Hình như vào buổi chiều. Triết học loằng ngoằng q, 76 thắc mắc. Website: http://www.docs.vn Tin nhắn hộp thư online : [email protected] Tel : 0918.775.368 Thành:- Giáo viên không hạn chế thì toi . [4, 90, 91] 2.khoa học a- Khái niệm: PC khoa học là PC được dùng trong ngành nghề tìm hiểu, học tập và thông dụng khoa học. Ðây là PCđặc trưng chomục đích diễn tả chuyên môn sâu. Khác với PCKN, PC này chỉ tồn tại đa số ở môi trường của những người làm khoa học ( ngoại trừ dạng phổ cập khoa học). PC khoa học có ba biến thể: PC khoa học nâng cao, PC khoa học giáo khoa và PC khoa học phổ cập. Khác với PC khẩu ngữ, ở PC này dạnglà tiêu biểu. b-và đặc trưng: 1-năng: PC khoa học có hailà: thông báo và minh chứng. Một vài giáo trình trước đó cho rằng PCKH cóchủ yếu là thông báo [14],[15]. Tư tưởng trên tỏ ra không bao quát hết bản chất của PC này. Chínhchứng minh tạo thành sự khu biệt giữa PCKH vớiPC khác. Văn bản thuộc PC này không chỉ thuần thông báosự kiện, sự vật tồn tại trong thực tiễn khách quan mà còn phải minh chứng, làm sáng tỏ ý nghĩa củasự kiện ấy. 2- Ðặc trưng: PC khoa học có 3 đặc trưng : 2.1- Tính trừu tượng- tổng quan: Mục đích của khoa học là phát hiện raquy luật tồn tại trongsự vật, hiện tượng nên phải thông qua trừu tượng hoá, tổng quan hoá khi nhận thức và phản ánh hiện thực khách quan. Trừu tượng hoá chính là con đường của nhận thức lí tính giúp ta thoát khỏi những nhận thấy lẻ tẻ, rời rạc ở giai đoạn cảm tính. Ví dụ , để có khái niệm PCCNNN, người ta đã phải trừu tượng hoá tất cảvăn bản,dạng lời nói trong quá trình hoạt độnggiao. 2.2- Tính logic:diễn tả của PC khoa học phải biểu hiệnlực tổng hợp của trí tuệ, phải tuân theo quy tắc chặt chẽ từ tư duy logic hình thức đến tư duy logic biện chứng.nội dung ý tưởng khoa học của ngườiphải được sắp xếp trong mối quan hệ logic, tránh trùng lặp hoặc tranh chấp; những Website: http://www.docs.vn Tin nhắn hộp thư online : [email protected] Tel : 0918.775.368 tổng quan, suy lí khoa học không được phủ định lại những tài liệu (cứ liệu) làm nền tảng cho nó . 2.3- Tính chính xác- khách quan: PC khoa học không được phép tạo ra sự khác biệt giữa cái diễn đạt và cái được diễn đạt. Một văn bản khoa học chỉ có giá trị thực sự khi mang đến người tiếp nhận những thông tin chuẩn xác vềphát hiện, phát minh khoa học. Muốn vậy, văn bản khoa học phải đảm bảo tính một nghĩa. Nghĩa là nó không cho phép nhiềuhiểu khác nhau hoặc hiểu mộtmơ hồ. Chân lí khoa học luôn phụ thuộc vàoquy luật khách quan, không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người. Những từbiểu cảm, những ý kiến chủ quan không thích hợp ở PC này. c- Ðặc điểm : 1-âm: Khi phát âm ở PC này người ta thường có ý thức hướng tới chuẩn mựcâm.điệu có thể được dùng hạn chế để tăng thêm sức thuyết phục của sự lập luận 2- Từ ngữ: – Sử dụng nhiều và sử dụng chuẩn xác thuậtkhoa học. – Những từtrừu tượng, trung hòa về sắc thái biểu cảm xuất hiện với tần số cao và thích hợp với sự diễn tả của PC này. Ví dụ: Cái mô hìnhpháp mô tả mà N. Chomsky thừa nhận là có tính khách quan và chặt chẽ nhất là mô hình ICs ( với lối phân tích lưỡng phân liên tục, từ S ( tức Sentence đến NP, VP ( tức noun phrase, verb phrase) rồi đến những thành tố trực tiếp khác trong lòng chúng cho đến hình vị cuối cùng), nhưng vận dụng nó vào việc tạo sinh câu thì vẫn có thể tạo ra những câu kỳ quặc kiểu như The colorless green ideas sleep furiously (Những tư tưởng không màu màu xanh lụcmộtgiận dữ)! Với sự sáng lậppháp tạo sinh, N.Chomsky là người trước hết đi vào nghiên cứupháp của hoạt động tạo ra lời. Ðây là cống hiến trọng yếu của N. Chomsky mà lịch sửhọc sẽ trân trọng ghi khắc, một cống hiến có giá trị tạo ra một giai đoạn phát triển mới trong tiến trìnhhọc toàn cầu. [ 11,29] Website: http://www.docs.vn Tin nhắn hộp thư online : [email protected] Tel : 0918.775.368 -đại từ ngôi thứ ba ( người ta) và đại từ ngôi thứ nhất ( ta, tất cả chúng ta, chúng tôi ) với ý nghĩa tổng quan được dùng nhiều. Ví dụ: Và như vậy, ta lại trở về với mộthiểu xuất phát của từmà không chỉ làhay hoạt độngnghệ thuật hay phi văn nghệ v.v . đó là: những đặc trưng hoạt động bằng lời nói được lặp đi lặp lại ở một người nào đó, ở một môi trườnghay một cộng đồng có khảkhu biệt với những kiểu biểu đạtkhác; nóikhác nó là tổng số của những dấu hiệu khu biệt củasự kiện lời nói trong giao tiếp, phản ánh một cấu trúc bên trong và một cơ chế hoạt độngngữ. [5, 130] 3- Cú pháp: – PC khoa học sử dụnghình thức câu hoàn chỉnh, kết cấu câu chặt chẽ, rõ ràng để đảm bảo yêu cầu chuẩn xác, một nghĩa và tránhhiểu nước đôi nước ba. -pháthàm chứa nhiều lập luận khoa học, trổ tài chất lượng tư duy logic cao. – Câu điều kiện-hệ quả và câu ghép được sử dụng nhiều. Nội dung củaphátđều minh xác. Sự liên hệ giữavế trong câu và giữaphátvới nhau trổ tài những luận cứ khoa học chặt chẽ. Vì vậy, độ dư thừa trongphátnói chung là ít, mà cũng có thể nói là ít nhất, so vớiphátkhác. – VănKH thường sử dụng những cấu trúc câu khuyết chủ ngữ, hoặc câu có chủkhông xác nhận. 3.thông tấn a. Khái niệm: PC thông tấn là PC được dùng trong ngành nghề thông tin của xã hội về toàn bộ những vấn đề thời sự .( Thông tấn : có nghĩa là thu thập và chỉnh sửa tin tức để phân phối chonơi.) Tạp chí, nhất là báo hàng ngày, là nơi đăng tảiloại tin tức, tri thức có tính tổng hợp và update hoá, trong đó hầu như hiện diện đủ tất cảloạinhư : khoa học, hành chính, chính luận, văn chương. Do đó, không […]… hội có tầm tổng quan nhất định Chính vì thếvăn chương dễ đi vào lòng người, nó trở thànhcủa muôn người Tính hình tượng trongvăn chương trổ tài ở chỗở đây có khảtruyền đạt sự vận động, động tác nội tại của toàn bộ toàn cầu, cảnh vật, con người vào trong tác phẩmtrongkhẩucũng có khảnày nhưng nó không là điều bắt buộc Trong…thông tấn làbáo chí PC thông tấn cóloại: văn bản phân phối tin tức, văn bản phản ánh công luận và văn bản thông tin- quảng cáothông tấn tồn tại cả ba dạng: dạng nói (kênh nói được dùng ởđài phát thanh); dạng hình và nói (kênh nói và hình được dùng ở đài truyền hình); dạng( kênhđược dùng trên báo và tạp chí ) b-và đặc trưng 1-năng: … những yếu tốâm như: âm, thanh,điệu, tiết tấu, âm điệu rất trọng yếu Có thể nói, toàn bộ những tiềmcủaâm Website: http://www.docs.vn Tin nhắn hộp thư online : [email protected] Tel : 0918.775.368đều được vận dụng mộtnghệ thuâtû để thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ về mặtâm của người đọc, người nghe Hầu như mọi biến thể củaâmđều được khai thác 2- Từ ngữ: Từtrong PCVC… trình bày trong một câu 6văn chương a- Khái niệm: PC văn chương ( còn gọi là PC văn nghệ) là PC được dùng trong sáng tác văn chương PC này là dạng tồn tại vẹn toàn và sáng chói nhất củatoàn dân PC văn chương không có hạn chế về đối tượng giao tiếp, không gian và thời gian giao tiếp b-và đặc trưng: 1- Chức năng : PCvăn chương có banăng: thông báo, thúc đẩy,… những hiện tượngNhư vậy, ởvùng núi cao, hoặc ởvùng quê xa xôi, hẻo lánh thì còn lưu lại những dấu vết củacổ xưa Vì thế, khi nghiên cứuphương ngữ, tất cả chúng ta có thể khôi phục lại, tìm thấy được dấu vết phát triển củaViệt, nêu ra được những biến thể và những bất biến trong lịch sửViệt, và do đó nêu ra được những dấu hiệu củaNhiều sự vật, được… cảnh nào và vì mục đích gì Giao tiếp ởnày, người phátcó vai trò quyết định: Miệng nhà quan có gang, có thép; Vai mang túi bạc kè kè Nói ấm nói ớ, người nghe ầm ầm Trong khi đó, ởvăn chương, địa vị cao thấp, sang hèn của nhà văn nhà thơ không đóng vai trò quyết định nhiều Tính hình tượng củavăn chương bắt nguồn từ chỗ đó làcủa một chủ thể tư tưởng thẩm mĩ… này với PC khoa học, PC thông tấn vẫn còn một số tư tưởng chưa thống nhất [4], [8],[14], [15] b-và đặc trưng : 1-: PC chính luận có banăng: thông báo, thúc đẩy và minh chứng Chính vì thực hiện các chức năng này mà ta thấy PC chính luận có sự trổ tài đặc trưng và đặc điểmcó nét giống với PC thông tấn, PC khoa học và cả PC văn chương Website: http://www.docs.vn… phát triển (Báo Nhân dân) 5hành chính a- Khái niệm : PC hành chính là PC đuợc dùng trong giao tiếp thuộc ngành nghề hành chính Ðấy là giao tiếp giữa Nhà nước với nhân dân, giữa nhân dân với đơn vị Nhà nước, giữa đơn vị với đơn vị, giữa nước này và nước khác b-và đặc trưng: 1-năng: PC hành chính có hainăng: thông báo và sai khiếnthông báo trổ tài rõ ở…đài phát thanh và truyền hình của địa phương hoặc khu vực, có thể sử dụng mộtcó chừng mực một số biến thể phát âm thuộc một phươngnào đó, nơi mà đài phủ sóng 2- Từ ngữ: 2.1- Tạp chí là phương tiện thông tin đại chúng Do vậy, từđược dùng trongthông tấn trước hết phải là từtoàn dân, có tính thông dụng cao Tuy nhiên, ở mỗi thể loại có sự trổ tài khác nhau: – Từ ngữ. .. trước hết vì bảo tàng này giới thiệu mộtbình đẳng 54 nền văn hoá của 54 dân tộc ởNam Ðó là điều không phải ở đâu cũng làm được Chủ thể của những nền văn hoá này được tôn trọng tronggiới thiệu từng thành tố văn hoá Bảo tàng đã phản ánh mộtchân thật lịch sử, đời sống văn hoá và cuộc sống củadân tộc ( Báo Tuổi trẻ CN ) 2.2- Từdùng thường có màu sắc biểu cảm- cảm . Sơ đồ phong thái tiếng Việt được triệu chứng như sau : Tiếng Việt toàn dân Phong thái khẩu ngữ tự nhiên Phong thái ngôn ngữ gọt giũa Phong thái . Phong thái chính luận Phong thái hành chính Phong thái ngôn ngữ văn chương 2- GS Ðinh Trọng Lạc phân loại phong miễn nhiệm năng tiếng Việt

Xem Thêm :   Bộ sưu tập 50 bức tranh tô màu con cá tuyệt đẹp dành cho bé

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Giáo Dục

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Kiến Thức Chung

Related Articles

Back to top button